Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2009

Tú tài Làng Ô Môi (phần đầu)

Trinh Bửu Hoài (An Giang)
Sinh năm : 1952 tại Mỹ Đức, An Giang
Công tác tại hội văn nghệ tỉnh An Giang

Làng Ô môi mỗi năm chỉ đẹp có hai mùa. Mùa hoa ô môi nở rực cả bầu trời một màu hồng mịn và mùa lúa chín biến cánh đồng thành tấm thảm vàng óng trải đến tận chân trời.

Làng ô môi cách xa chợ tỉnh không hơn mười cây số nhưng được xem là hẻo lánh bởi đoạn đường về làng vốn đã vắng vẻ, um tùm lau sậy lại còn quanh co khúc khuỷu, lầy lội vào mùa mưa, bụi mù vào mùa nắng và ngập ngụa trong mùa nước nổi. Tất cả người làng đều là nông dân. Đàn bà trẻ con và cả người già còn sức đều ra đồng. Từ đầu đến cuối làng chẳng có hàng quán. Mỗi ngày có một chuyến ghe hàng tạp hóa từ đâu chèo đến với tiếng loa kèn vang dọc bờ kinh.

Dân làng ít ai ra chợ nếu không có việc cần kíp. Có người suốt đời chưa bước chân ra khỏi làng. Lúa gạo trên đồng và tôm cá dưới sông. Cuộc sống họ êm đềm trong đạm bạc.

Cả làng chỉ có vài người biết chữ. Một ít trẻ con được đến trường nhưng rất trễ. Có đứa mới học lớp nhất đã đi hỏi vợ. Trường học ở ngoài lộ đá, cách làng chừng năm cây số. Trẻ con đi học dù là ban ngày cũng phải đi thành nhóm vì sợ…ma. Nghĩa địa nằm sau chòm tre già, gió đưa kêu xào xạc, ken két suốt ngày, người lớn đi qua còn dáo dác, hồi hộp. dân làng nghĩ rằng cần có một lớp học tại xóm để trẻ con khỏi phải đi xa. Anh Quít là người khá chữ nhất trong làng nên được cử làm thầy giáo. Lớp học hình thành dưới mái lá xiêu xiêu nồng nặc mùi rơm mốc với hơn hai mươi đứa trẻ mặt mày lem luốc. Học trò không có sự đồng nhất nào cả. Tuổi từ bảy, tám đến mười lăm, mười sáu. Áo quần đủ kiểu đủ màu sờn bâu đứt nút. Thậm chí có đứa ở trần màu da đen sạm, tóc vàng hoe khét nắng. tiếng đánh vần vang lên như tiếng ểng ương kêu mỗi khi trời sụp tối, nhưng cũng làm vui tai cả xóm. Học trò có đứa vừa học vừa giữ em, có đứa ngồi trong lớp nhưng vẫn phải trông chừng đàn bò đang nhai cỏ ngoài đồng. Thầy giáo không bằng cấp, lớp học không ai quản lý. Chương trình không theo một giáo khoa nào. Học trò tốt nghiệp chắn chắn là đi chăn bò nhung biết đọc biết viết là quí lắm rồi. Cho nên đứa sáng dạ thì sáu tháng đã ra trường, có đứa ba năm vẫn chưa ráp được vần ngược.

Từ lớp học ấy xuất hiện hai học trò mà theo thầy Quít là thần đồng, thông minh xuất chúng! Đó là thằng Bi con của Hai Bền và thằng Ngọt con của Sáu Đường. Bi và Ngọt đồng trang nhưng tướng mạo, vóc dáng khác nhau. Bi lùn thấp, dáng người chắc nịch. Ngọt ốm cao, tay chân lỏng khỏng. Trong các cuộc đùa vui với bạn bè, Ngọt chỉ dám tham gia những trò chơi nhẹ nhàng như bắn bi, đánh cờ…còn Bi thích những trò chơi mạnh bạo như đánh hưng, chơi u…

Nghe theo lời khuyên của thầy Quít. Hai Bền và Sáu Đường đồng ý cho Bi và Ngọt ra trường nhà nước học với kỳ vọng sau này đỗ đạt làm quan. Quả thật, vài năm sau chúng làm rạng rỡ tông đường, được cả làng kính trọng khi thi đậu vào trường trung học công lập của tỉnh. Cả hai thực sự lột xác, thoát kiếp nông dân khi khoát lên vai chiếc áo trắng thơm mùi hồ thay cho chiếc áo nâu đen lấm bùn đất.

Mười năm sau, làng Ô Môi có nhiều thay đổi. Nhà ngói mọc lên rải rác. Nhà nghèo nhất cũng cột gỗ khang trang. Trường tiểu học được xây dựng trên cái gò trâu cao hơn mực nước nổi. Hàng tiệm, quán xá rộn rã hai bên bờ kinh. Nhà cửa sinh sôi lấn dần vùng lau sậy hoang dã. Học trò ra trường tỉnh càng lúc càng đông.

Ngọt và Bi đều đậu tú tài. Hai cậu tú đáng quý của lang Ô Môi luôn được dân làng nể trọng. Tốt nghiệp trường sư phạm. Ngọt trở thành người thầy có bằng cấp đầu tiên của làng. Càng lớn, Ngọt càng đẹp trai, tướng mạo phương phi, nhiều cô thôn nữ thầm thương trộm nhớ. Nhưng giữa anh và họ đã sớm có một khoảng cách tính ít nói, nghiêm nghị mà các cô cho là anh tự cao. Đối với các bô lão trong làng, biết kính trên nhường dưới, sẵn sàng giúp đỡ mọi người bằng kiến thức của mình. Ngoài giờ dạy ở trường, anh về nhà đọc sách, nghiên cứu, không thích chè chén hay vui thú ở chỗ đông người. Đối với làng Ô Môi, Ngọt là người uyên bác, nên trong các dịp lễ hội, anh được các cụ già mời ngồi chung chiếu đàm đạo. Có lẽ vì thế mà phong cách sống của Ngọt cũng sớm già trước tuổi.

Bi không đi làm việc mà trở thành nhà kinh doanh. Với cái nón nỉ trên đầu và chiếc cặp bên hông, anh thoắc mất thoắt hiện ở làng. Càng lớn Bi càng lanh lợi, hoạt bát. Có học, có tiền, nói năng khéo léo, anh thu hút nhiều người. Các bô lão rất thích sự rộng rãi, sự hào phóng của Bi bởi mỗi đợt cúng đình hay lạc quyên, anh luôn tặng những số tiền khá lớn. Trong quyển sổ vàng của làng, tên Nguyễn văn Bi xuất hiện ngạo nghễ trên nhiều trang giấy. các thanh niên trong làng cũng khoái Bi vì anh rất hào sảng trong các cuộc nhậu. Họ học ở anh cách ăn nói văn minh, lịch thiệp, được nghe anh kể những chuyện lạ ở xứ người. Các cô gái cũng thích Bi vì tính anh thân mật, gặp cô nào cũng ân cần thăm hỏi. Nghe đâu, có một vài cô dám trốn nhà theo Bi đi du lịch nhưng chưa thấy anh yêu thực sự một ai.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét