Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện thường ngày. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện thường ngày. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2012

Một số từ địa danh Hán Việt

Chí Lợi (Chile),
Nữu Ước (New York),
Hoa Thịnh Đốn (Washington),
Mã Nhật Tân (Manhattan, khu trung tâm của New York),
Cựu Kim Sơn (San Francisco – bang California, Mỹ),
Phú Lang Sa, Pháp Lan Tây (France),
Úc Đại Lợi (Australia),
Ý Đại Lợi (Italia),
Luân Đôn (London),
Phi Luật Tân (Philippine),
Tân Tây Lan (New Zealand),
điện Cẩm Linh (điện Kremly – nơi làm việc của tổng thống Nga),
Hoa Lệ Ước (Hollywood), 
Mạc Tư Khoa (Moscow, thủ đô Nga), 
Cơ Phụ (Kiev – thủ đô Ukraine),
sông Phục Nhĩ Gia (sông Volga),
sông Đa Não Hà (sông Danuble),
Ba Tây (Brazil),
A Phú Hãn (Afganishtan),
Gia Nã Đại (Canada), 
A Mỹ Lợi Gia (America),
Á Căn Đình (Argentina), 
Áo Môn (Macau), 
Cao Ly (Korea), 
Hạ Uy Di (Hawai),
Hoành Quốc (Monaco, công quốc thuộc Pháp),
Hoành Tân (Yokohama – Nhật Bản), 
Hưng Gia Lợi (Hungary), 
Hy Mã Lạp Sơn (Hymalaya – dãy núi),
Hương Cách Lý Lạp (Shangri La ),
Mễ Tây Cơ (Mexico), 
Tân Đức Lợi (New Delhi – Ấn Độ),
Hương Cảng (Hongkong), 
Thánh Hà Tây (San Jose – California, Mỹ), 
Tô Cách Lan (Scotland), 
Uy Nê Tư (Venice – Ý),
Ái Nhĩ Lan (Ireland), 
Ba Lê (Paris), 
Bảo Gia Lợi (Bulgary), 
La Tỉnh (Los Angeles – California, Mỹ),
Á Lan Đại (Atlanta), 
Á Tế Sá (Asia), 
Bá Linh (Berlin), 
Bạch Nga (Belarus),
Bàn Môn Điếm (Panmomjum, khu phi quân sự chia đôi Nam – Bắc Triều Tiên),
Bình Nhưỡng (Pyongyung),
Triều Tiên (Chosun)
Băng Đảo (Iceland), 
Cao Miên (Campuchia), 
Chi Gia Kha (Chicago, bang Illinois, Mỹ), 
Đông Hồi (Banglades),
Hán Thành (Seoul, thủ đô Hàn Quốc), 
Đông Kinh (Tokyo), 
Hồi Quốc (Oman), 
Lỗ Mã Ni (Romania), 
Mạnh Mãi (Mumbay, còn có tên là Bombay, thành phố đông dân nhất Ấn Độ), 
Phú Sỹ (Fuji –ngọn núi ở Nhật), 
Tân Đức Lợi (New Delhi, thủ đô Ấn Độ), 
Tây Hồi (Pakistan), 
Tây Nhã Đồ (Seattle, bang Washington, Hoa Kỳ), 
Tích Lan (Sri Lanca),
Vọng Cát (Bangkok – thủ đô Thái Lan),
Trân Châu Cảng (Pearl Harbor)
Vương Quốc Anh Cát Lợi (United King Kingdom of Great Britain)
Tân Gia Ba (Singapore)
Y Lãng (Iran)
Y Lạp Khắc (Iraq)
Uy Nhĩ Sĩ (Wales)
Âu La Ba (Europe)
Nam Dương (Indonesia)
Lục Xâm Bảo (Luxembourg)
Đức Ý Chí (Germany)
Mã Lai Á (Malaysia)
Miến Điện (Myanmar)
Áo Đại Lợi (Austria),

Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2011

Dzọng Sài Gòn

Sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn, trong đầu lúc nào cũng có một ý định là sẽ “thở đều” trên mảnh đất ồn ào này, ý định đó chắc sẽ giữ mãi cho đến lúc một ngày nào đó âm thầm, không bứt rứt cắn tay áo mà mỉm cười te te đi xuống dưới ấy … để quậy típ.

Gọi là yêu Sài Gòn thì có phần hơi quá!


Không dám gọi thứ tình cảm dành cho Sài Gòn là tình yêu, nó chưa thể đạt đến mức ấy. Cái tình với Sài Gòn là cái tình của một thằng ăn nhậu với Sài Gòn hơn 20 năm, cái tình của một thằng mà với nó, Sài Gòn còn quá nhiều điều níu kéo, quá nhiều chuyện để mỗi khi bất chợt nghĩ về Sài Gòn, lại thấy nhơ nhớ, gần gũi...


Hồi còn đi học, vẫn hay chọc mấy đứa bạn bằng 2 câu thơ nhại :


"Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

Gái Sài Gòn cái mỏ cong cong"

Chuyện con gái Sài Gòn "mỏ" có cong không thì hông biết, chỉ biết con gái Sài Gòn có cái dẫu môi cong cong dễ làm chết người lắm, nhất là khi cánh môi be bé ấy cong lên một chữ "hônggg..." khi đứa con trai rủ rê đi đâu, năn nỉ gì đó. Lúc đó, lấy gương ra soi, chắc cái mặt của đứa con trai đó tội lắm.


Mà con gái Sài Gòn có điệu đà, õng ẹo chút thì mới đúng thiệt là con gái Sài Gòn. Ai mà chẳng biết vậy. Gọi đó là cái duyên ngầm của người con gái đất Gia Định cũng chẳng có gì sai. Ai hiểu được sẽ thấy sao mà yêu mà thương đến vậy...


Có dạo đọc trong một bài viết về Sài Gòn – Gia Định của nhà văn Sơn Nam, có thấy ông viết giọng Sài Gòn, cũng như văn hóa và con người Sài Gòn là một sự pha trộn và giao thoa đến hợp nhất của nhiều nơi. Đó là những người Chăm bản địa, những người khách Hoa, những người miền Trung đầu tiên đến đất Gia Định…Từ đó hình thành một loại ngôn ngữ vừa bản địa, vừa vay mượn của những người đi mở đất…


Giọng người Sài Gòn được xem là giọng chuẩn của miền Nam, cũng như giọng người Hà Nội được xem là giọng chuẩn của người miền Bắc. Giọng chuẩn tức là giọng không pha trộn, không bị cải biến đi qua thời gian. Như nói về giọng chuẩn của người Hà Nội, người ta nói đến chất giọng ấm nhẹ, khi trầm khi bổng, khi sắc khi thanh, và chẳng ai phủ nhận người Hà Nội nói chuyện rất hay và “điêu luyện”. Cái “điêu luyện” ấy như thuộc về bản chất của người Hà Nội mà chỉ người Hà Nội mới có được. Nếu nói là người Việt Nam nói như hát, thì đúng ra chỉ có người Hà Nội là “nói như hát” mà thôi, họa chăng chỉ có giọng Huế của người con gái Huế trầm tư mới cùng được ví von thế…Người Sài Gòn thì khác, giọng Sài Gòn cũng khác. Không ngọt ngào …mía lùi như một số người dân Tây Nam Bộ ven vùng sông nước mênh mang chín rồng phù sa, không nặng nề cục mịch như người miền Đông Nam Bộ nóng cháy da thịt, giọng người Sài Gòn cũng ngọt, nhưng là cái ngọt thanh hơn, nhẹ hơn. Đó là chất giọng “thành thị” đầy kiêu hãnh của người Sài Gòn, chẳng lẫn vào đâu được mà dù người khác có bắt chước cũng khó lòng. Dường như qua nhiều năm cùng với đất Gia Định – Sài Gòn phù hoa trong nhịp sống, trong đổi mới và phát triển, thì giọng nói của người Sài Gòn cũng trở nên “cao sang” hơn. Dù vậy, có cái “thanh” của một vùng đất một thời là thủ phủ Nam Bộ, nhưng cũng chẳng mất đi đâu cái mộc mạc không bỏ được của cái gốc chung Nam Bộ.


Giọng người Sài Gòn nói lên nghe là biết liền. Ngồi nghe hai người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau ở một quán nước, bên đường hay qua điện thoại, dễ dàng nhận ra họ. Cái giọng không cao như người Hà Nội, không nặng như người Trung, mà cứ ngang ngang sang sảng riêng…Mà điều đặc biệt trong cách người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau là mấy từ “nghen, hen, hén” ở cuối câu... Người miền khác có khoái, có yêu người Sài Gòn thì cũng vì cách dùng từ “nghen, hen” này. Khách đến nhà chơi, chủ nhà tiếp. Khách về, cười rồi buông một câu “Thôi, tôi dìa nghen!” - Chủ nhà cũng cười “Ừ, dzậy anh dìa hen!”. Nói chuyện điện thoại đã đời, để kết câu chuyện và cúp máy, một người nói “Hổng còn gì nữa, dzậy thôi hen!” “thôi” ở đây nghĩa là dừng lại, kết thúc, chấm dứt gì đó. Hai đứa bạn nói chuyện cùng nhau, bắt gặp cái gì vui, quay đầu sang đứa kế bên “Hay hén mậy?” bằng giọng điệu thoải mái…


Giọng người Sài Gòn đôi khi diễn đạt cùng một câu nói, nhưng lại bằng nhiều cung bậc giọng điệu khác nhau lại mang ý nghĩa khác nhau. Đám nhỏ quậy, nghịch phá, người chị mắng, giọng hơi gằn lại và từng tiếng một, có chút hóm hỉnh trong đó “Dzui dzữ hen!”. Đám bạn cùng tuổi, ngồi chơi chung, cười đùa, một người nói giọng cao cao vui vẻ “Dzui dzữ hen!”…Người Sài Gòn có thói quen hay “đãi” giọng ở chữ cuối làm câu nói mang một sắc thái khác khi hờn giận, khi đùa vui như “Hay dzữuuu”, “Giỏi dzữưưu…!” Nghe người Sài Gòn nói chuyện, trong cách nói, bắt gặp “Thôi à nghen” “Thôi à!” khá nhiều, như một thói quen và cái “duyên” trong giọng Sài Gòn.


Người Sài Gòn nói chuyện, không phát âm được một số chữ, và hay làm người nghe lẫn lộn giữa âm “d,v,gi” cũng như người Hà Nội phát âm lẫn các từ có phụ âm đầu “r” vậy. Nói thì đúng là sai, nhưng viết và hiểu thì chẳng sai đâu, đó là giọng Sài Gòn mà, nghe là biết liền. Mà cũng chẳng biết có phải là do thật sự người Sài Gòn không phát âm được những chữ ấy không nữa, hay là do cách nói lẫn từ “d,v,gi” ấy là do quen miệng, thuận miệng và hợp với chất giọng Sài Gòn. Ví như nói “Đi chơi dzui dzẻ hen mậy!” thì người Sài Gòn nói nó… thuận miệng và tự nhiên hơn nhiều so với nói “Đi chơi vui vẻ hen!”. Nói là “vui vẻ” vẫn được đấy chứ nhưng cảm giác nó ngường ngượng miệng làm sao đó. Nghe một người Sài Gòn phát âm những chữ có phụ âm "v" như "về, vui, vườn, võng" nó cảm giác sao sao á, không đúng là giọng Sài Gòn chút nào...




Nhìn lại một quãng thời gian hơn 300 năm hình thành và phát triển của Sài Gòn từ Phiên Trấn, Gia Định Trấn, Gia Định Thành, Phiên An, Gia Định Tỉnh…cho đến Sài Gòn, Saigon, dân Sài Gòn đã là một tập hợp nhiều dân tộc sinh sống như Việt, Hoa, Kh’mer…Các sử sách xưa chép lại, khi người Việt bắt đầu đến Đồng Nai – Gia Định thì người Kh’mer đã sinh sống ở đây khá đông, rồi tiếp đó là người Hoa, và một số người tộc láng giềng như Malaysia, Indonesia (Java) cũng có mặt. Sự hợp tụ này dẫn đến nhiều sự giao thoa về mặt văn hóa, làm ăn, cũng như những mặt khác của đời sống, trong đó dĩ nhiên phải nói đến ngôn ngữ.


Tiếng nói của người Sài Gòn không chỉ thuần là tiếng Việt, mà còn là sự học hỏi, vay mượn nhiều từ ngữ của dân tộc bạn, đâm ra mang nhiều “hình ảnh” và “màu sắc” hơn. Những từ như “lì xì, thèo lèo, xí mụi, cũ xì…” là mượn của người Hoa, những từ như “xà quầng, mình ên…” là của người Kh’mer. Nói riết đâm quen, dần dần những từ ngữ đó, những tiếng nói đó được người dân Sài Gòn sử dụng một cách tự nhiên như của mình, điều đó chẳng có gì lạ…Thêm vào đó, nó được sửa đổi nhiều cho phù hợp với giọng Sài Gòn, thành ra có những nét đặc trưng riêng.


Vậy nói cho cùng thì người Sài Gòn cũng có những tiếng gọi là “tiếng địa phương” (local dialect !?). Những tiếng này thể hiện rõ nhất khi người Sài Gòn nói chuyện cùng người miền khác. Nghe một người Sài Gòn nói chuyện cùng một người khác vùng, dễ dàng nhận ra những khác biệt trong lời ăn tiếng nói giữa hai người, hai miền. Có một số từ người Sài Gòn nói, người miền khác nghe rồi…cười vì chưa đoán ra được ý. Cũng như khi nghe người Huế dùng một số từ lạ lạ như “o, mô, ni, chừ, răng…” trong khi nói chuyện vậy thôi. Khác là mấy tiếng người Sài Gòn nói, vẫn có chút gì đó nó…vui vui tai, là lạ, ngồ ngộ và…bình dân làm sao.


Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ "dạ" khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ "vâng". Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ "vâng". Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói "vâng!" là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt. Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ "dạ" vào mỗi câu nói. "Mày ăn cơm chưa con ? - Dạ, chưa!"; "Mới dìa/dzề hả nhóc? - Dạ, con mới!"… Cái tiếng "dạ" đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó "thương" lạ...dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm. Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác. Nghe một tiếng "dạ" là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẳn hay...


Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói “Từ bữa đó đến bữa nay”, còn người Sài Gòn thì nói “Hổm nay”, “dạo này”…người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê. (Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng. Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là “nhiều”, là “lắm”. Nói “Nhỏ đó xinh ghê!” nghĩa là khen cô bé đó xinh lắm vậy.) Lại so sánh từ “hổm nay” với “hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau. Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm rày, miết…” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy. Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng, vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất Nam Bộ chung mà.


Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem…”Nhỏ đó xinh lắm!”, “Nhỏ đó ngoan!”…Tiếng “nhỏ” mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội. Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thuý, nhỏ Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như “cái Thuý, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi.


Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu “Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề…nhìn phát bực!” Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm. Một người lớn hơn gọi “Ê, nhóc lại nói nghe!” hay gọi người bán hàng rong “Ê, cho chén chè nhiều nhiều tiền ít coi!”… “Ê” là tiếng Sài Gòn đó, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu, có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người Sài Gòn. Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường “quên” mất từ “bán”, chỉ nói là “cho chén chè, cho tô phở”… “cho” ở đây là mua đó nghen. Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này “Lấy cái tay ra coi!” “Ngon làm thử coi!” “Cho miếng coi!” “Nói nghe coi!”… “Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè ? Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ “coi” cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà. Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm, không ít người sẽ hỏi “mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta ?” – Mà “dzậy ta” cũng là một thứ “tiếng địa phương” của người Sài Gòn à. Người Sài Gòn có thói quen hay nói “Sao kỳ dzậy ta?” “Sao rồi ta?” “Được hông ta?”…Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà…hổng phải dzậy đâu nghen, kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà.


Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là… “bạn hông biết gì hết chơn hết chọi!”


Mà giọng Sài Gòn đã thế, cách người Sài Gòn xưng hô, gọi nhau cũng có phần mang “màu sắc” riêng.


Người Sài Gòn có cái kiểu gọi “Mày” xưng “Tao” rất “ngọt”. Một vài lần gặp nhau,nói chuyện ý hợp tâm đầu một cái là người Saigon mày tao liền. Nếu đúng là dân Sài Gòn, hiểu người Sài Gòn, yêu người Sài Gòn sẽ thấy cách xưng hô ấy chẳng những không có gì là thô mà còn rất ư là thân thiện và gần gũi.


Mày-tao là kiểu xưng hô hay thấy trong mối quan hệ bạn bè của người Sài Gòn. Cách xưng-hô này thấy dàn trải từ đủ các mối quan hệ bạn bè; từ bạn học giữa mấy đứa nhóc chút xíu, cho đến mấy bác mấy anh lớn lớn tuổi. Hổng biết cái máu dân Sài Gòn nó chảy mạnh quá hay sao mà thấy mấy cách gọi này nó...tự nhiên và dễ nói hơn là mấy từ như "cậu cậu - tớ tớ" của miền Bắc. Nói chuyện bạn bè với nhau, thân thiết mà gọi mấy tiếng mày mày tao tao thì nghe thật sướng, thật thoải mái tự nhiên, và khoai khoái làm sao ấy. Gọi thế thì mới thiệt là dân Sài Gòn.


Đấy là ngang hàng, ngang vai vế mà gọi nhau, chứ còn như đám nho nhỏ mà gặp người lớn tuổi hơn, đáng bậc cha, chú thì khác. Khi ấy “tụi nhỏ” sẽ gọi là chú, thím, cô, dì, hay bác và xưng “con” ngọt xớt. Có vẻ như người Sài Gòn "ưa" tiếng chú, thím, dì, cô hơn; cũng như đa phần dân miền Nam khác vậy mà. Mà có lẽ cách gọi này cũng còn tuỳ vào việc ước lượng tuổi của người đối diện. Gặp một người phụ nữ mà mình nhắm chừng tuổi nhỏ hơn mẹ mình ở nhà thì "Dì ơi dì...cho con hỏi chút...!" - còn lớn hơn thì dĩ nhiên là "Bác ơi bác..." rồi. Những tiếng mợ, thím, cậu,... cũng tuỳ vào vai vế và người đối diện mà gọi. Có người chẳng bà con thân thuộc gì, nhưng là bạn của ba mình, lại nhỏ tuổi hơn, thế là gọi là chú và vợ của chú đó cứ thế gọi luôn là thím. Gọi thì gọi thế, còn xưng thì xưng “con” chứ không phải “cháu cháu” như một số vùng khác. Cái tiếng “con” cất lên nó tạo cho người nghe cảm giác khoảng cách giữa mình với đứa nhỏ đang nói kia tự dưng… gần xịt lại. Nghe sao mà quen thuộc, và gần gũi đến lạ lùng. Tự dưng là thấy có cảm tình liền.


Nói tiếp chuyện xưng-hô, người Sài Gòn có kiểu gọi thế này :


Ông đó = ổng

Bà đó = bả
Anh đó = ảnh
Chị đó = chỉ
...

Không hiểu sao mà dấu hỏi tự nhiên cái trở nên giữ vai trò quan trọng... ngộ nghĩnh dzậy nữa. Nhưng mà kêu lên nghe hay hay đúng hông? Gọi vậy mới đúng là chất Nam Bộ - Sài Gòn á nghen.


Người Sài Gòn cũng có thói quen gọi các người trong họ theo... số. Như anh Hai, chị Ba, thím Tư, cô Chín, dượng Bảy, mợ Năm...Mà nếu anh chị em họ hàng đông đông, sợ gọi cùng là chị Hai, anh Ba mà hổng biết nói về ai thì dzậy nè, thêm tên người đó vào. Thành ra có cách gọi : chị Hai Lý, chị Hai Uyên, anh Ba Long, anh Ba Hùng...


Thêm nữa, nếu mà anh chị em cùng nhà thì tiếng "anh-chị-em" đôi khi được...giản lược mất luôn, trở thành "Hai ơi Hai, em nói nghe nè..." và "Gì dzạ Út ?"...Tôi thích cách gọi này, đâm ra ở nhà gọi Dì Út tôi chỉ là một tiếng Út gọn lỏn. Có chuyện nhờ là cứ "Út ơi...con nhờ chút!" hoặc với mấy chị tôi thì "Hai ơi Hai...em nói nghe nè!".


Cách gọi này của người Sài Gòn nhiều khi làm người miền khác nghe hơi...rối. Có lần, kể cho người bạn ở Hà Nội nghe về mấy người anh chị trong gia đình. Ngồi kể lể "anh Hai, chị Hai, dì Hai, Út, cậu Hai, mợ Hai, chú Ba..." một hồi cái bị kêu là hổng hiểu, xưng hô gì rối rắm quá chừng, làm phải ngồi giải thích lại suốt một hồi...lâu.


Cách xưng hô của người Sài Gòn là vậy. Nghe là thấy đặc trưng của cả một mảnh đất miền Nam sông nước.


Cứ thế, không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc, cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Thần Kinh, cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào của sông nước Nam Bộ, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa, và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn. Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng “Dạ!” cùng những tiếng “hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương…

(sưu tầm) 

Thứ Tư, 12 tháng 1, 2011

Câu đối Tết

  1. Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
    Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh
  2. Năm mới hạnh phúc bình an đến
    Ngày xuân vinh hoa phú quý về
  3. Tống cựu nghinh tân mừng xuân mới
    Dân an quốc thái đón thanh bình
  4. Làng Văn Hóa Tết Về Tiếng Thơm Bay Chín Núi
    Bản Ấm o Xuân Đến Lời Hát Rộn Mười Mường
  5. Việc chửa xong Tết đã về vội vã
    Năm chưa hết Xuân đà đến bâng khuâng
  6. Sống tu thân tích đức mở rộng lòng Sống sao cho đáng sống
    Xuân phúc lộc bình an tràn muôn lối Xuân mãi vẫn là xuân
  7. Cạn ly mừng năm qua đắc lộ
    Nâng cốc chúc năm mới phát tài
  8. Lộc biếc, mai vàng, Xuân hạnh phúc
    Đời vui, sức khỏe, Tết an khang
  9. Tối ba mươi sút thằng Bần ra ngõ
    Sáng mồng một đón ông Phú vào nhà
  10. Tối ba mươi ra cửa đụng ây nêu Ủa! Tết!
    Sáng mồng một vào nhà nghe lời chúc Ồ! Xuân!
  11. An khang phú quý thái thái bình
    Bách lão bá niên trường trường thọ
  12. Tân niên thánh đức bao ân phúc
    Xuân nhật an hòa mãi phú vinh
  13. Đất nước phồn vinh câu chúc tết
    Gia đình hòa thuận thiệp mừng xuân
  14. Xuân an khang đức tài như ý
    Niên thịnh vượng phúc thọ vô biên
  15. Mừng Xuân hỉ xả thêm công đức
    Đón Tết từ bi bớt não phiền
  16. Mẫu bánh nhành hoa nâng chén cay cay nào Tết
    Vuông con tròn mẹ cười vui hớn hở kìa Xuân
  17. Xuân sang cội phúc sinh nhành lộc
    Tết về cây đức trổ thêm hoa
  18. Trời thêm tuổi mới, người thêm thọ
    Xuân khắp dương gian, phúc khắp nhà
  19. Già trẻ gái trai đều khoái Tết
    Cỏ cây hoa lá cũng mừng xuân
  20. Tết trong nhà, Tết ra ngoài phố
    Lộc trên trời, lộc xuống nhân gian
  21. Xuân đáo bình an tài lợi tiến
    Mai khai phú quý lộc quyền lai
  22. Chúc Tết đến trăm điều như ý
    Mừng xuân sang vạn sự thành công
  23. Tăng phúc tăng quyền tăng phú quý
    Tấn tài tấn lộc tấn vinh hoa
  24. Trai gái cười vui mừng đón Tết
    Trẻ già hoan hỉ đón xuân sang
  25. Tết đến gia đình vui sum họp
    Xuân về con cháu hưởng bình an
  26. Tiễn hổ đi chúc xuân vui hạnh phúc
    Đón mèo về mừng Tết đạt thành công
  27. Mai lan cúc trúc chúc xuân sang
    Xuân Hạ Thu Đông trông tới Tết
  28. Vườn xuân đất Bắc tiễn cọp đi
    Chợ tết trời Nam mừng mèo đến
  29. Tết đến không tiền vui chi tết
    Xuân về không rượu đón chi xuân
  30. Giao thừa hái lộc, cung kính ông bà, rượu rót đôi ly, nghe lời chúc
    Mồng một đơm hoa, nhớ ơn cha mẹ, trà dâng ba chén, nhận lì xì
  31. Ô hay! Mai nở Xuân vừa đến
    Ừ nhỉ! Én bay Tết đã về
  32. Bức tranh xuân đường nét rộn ràng, phố xá, xóm làng bừng khí thế.
    Tờ báo tết tin bài hấp dẫn, công trường, xí nghiệp rộn niềm vui.
  33. Chúc Tết, Chúc cả nước nêu cao bầu nhiệt huyết, Dốc toàn tâm sức, Dựng cơ đồ Đất Việt phồn vinh
    Mừng xuân, Mừng toàn dân siết chặt khối đồng tâm, Đem hết tài năng, Xây bờ cõi Nước Nam vững chãi
  34. Giữ lòng thanh bạch, theo lẽ công bằng, sống đời nhân ái - Xuân mãi mãi Xuân,
    Nêu tính kiên trung, tỏ lời thẳng thật, thương kẻ bần hàn - Tết hoài hoài Tết.
  35. Nâng cành tỉa lá, phát huy luân lý nhân văn, Hoa mỹ tục nở bừng khắp nước.
    Gạn đục khơi trong, chọn lọc tinh hoa tiến bộ, Đuốc thuần phong soi sáng mọi nhà
  36. Nâng chén trà xuân, Câu uống nước nhớ nguồn đừng sao nhãng!
    Nhấp ly rượu tết, Chữ đền ơn đáp nghĩa chớ nhạt phai!
  37. Kiên trì đường lối, vững bước tiến lên, xây đất nước huy hoàng ngàn vạn Tết
    Đổi mới tư duy, mạnh đà vươn tới, dựng Giang Sơn rạng rỡ triệu muôn xuân
  38. Đảng anh minh, chung thủy vì dân, Đảng vĩ đại do lấy dân làm gốc
    Dân trung dũng, sắt son tin Đảng, Dân mạnh giàu bởi có Đảng tiên phong
  39. Đón thời cơ, sáng suốt tiến lên, vững quan điểm hoà đồng không mất gốc!
    Vượt thử thách, kiên cường đi tới, sáng chủ trương hội nhập chẳng quên nguồn!
  40. Chắc lập trường hoà nhập chẳng hoà tan, xây đất nước từng ngày phát triển
    Sáng quan điểm, Tự cường không tự mãn, giữ Giang Sơn muôn thuở vững bền
  41. Đảng anh minh, cán giỏi, binh hùng, Non sông Việt Tưng bừng đường phát triển
    Dân đoàn kết, nhà yên, nước thịnh, Đất trời Nam sáng lạng hướng tương lai
  42. Mở con đường Mang túi thuốc Đến với vùng cao Buôn sóc hân hoan Chào Tết đến
    Gùi cái chữ, cõng đường dây, về cùng miền núi, bản mường phấn khởi Đón xuân sang
  43. Đi giữa chợ hoa xuân, cảnh sắc tưng bừng, nhớ chốn biên cương sương tuyết phủ
    Bước vào khu chợ Tết, âm thanh nhộn nhịp, thương nơi hải đảo gió mưa gào
  44. Đón xuân, đón tết, đón đất nước vươn mình gió lặng trời trong vui mọi nẻo
    Mừng Đảng , mừng dân, mừng non sông đổi mới hoa thơm trái ngọt đẹp muôn nhà
  45. Tết trồng cây non nước rộ mầu xanh, xanh vạn thuở ấm tình Người vĩ đại;
    Xuân kiến thiết quê hương bừng nét đẹp, đẹp muôn đời công đức Đảng quang vinh
  46. Cán bộ giữ chữ chính, liêm phấn đấu hy sinh, dân hạnh phúc ắt bền gốc rễ
    Nhân dân nhớ câu cần, kiệm quên mình lao động, nước phồn vinh do tự ngọn nguồn
  47. Mừng tết luyện quân hùng, chiến thuật tinh thông, tỉnh táo gác canh trời Tổ quốc;
    Đón xuân rèn tướng giỏi, bài binh bố trận cơ mưu phòng vệ đất quê hương
  48. Trải nghìn năm văn hiến, đất Thăng Long từng quy tụ nhân tài
    Tiếp truyền thống hòa hoa, người Hà Nội luôn mở mang tri thức
  49. Hai mươi tuổi trẻ măng, các cụ cũng gọi thầy nghe mà đỏ mặt
    Sáu chục xuân già cả, con trẻ tự xưng em nghĩ lại tươi đời
  50. Nhớ thủa rồng lên ngày mới Thăng Long, Vua Lý dâng hương tiên tổ
    Vào mùa én liệng, tiết xuân Hà Nội, Bác Hồ chúc Tết nhân dân
  51. Ngày xuân kiến tạo bức tranh xuân, vươn tới đỉnh cao Chân - Thiện - Mỹ
    Năm mới dựng xây con người mới, chói ngời gương sáng Đức - Tài - Tâm
  52. Già mẫu mực, tâm đức nêu gương, việc đạo việc đời. truyền con cháu
    Trẻ xông pha. nhiệt tình phấn đấu, chữ trung, chữ hiếu, học ông bà
  53. Đổi mới không đổi đường, nối gót ông cha giương cao cờ độc lập
    Hoà nhập chẳng hoà tan, noi gương tiên tổ mài sắc chí kiên cường
  54. Có là bao, ba vạn sáu ngàn ngày, được trăm cái Tết
    Ước gì nhỉ, một năm mười hai tháng, cả bốn mùa xuân
  55. Mấy nghìn năm giữ nước lấy nhân nghĩa thắng bạo tàn tết đến trời Nam xuân một cõi
    Bao thế hệ xây đời, biến khó khăn thành thuận lợi xuân sang đất Việt tết muôn nhà
  56. Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa
    Sáng mồng một, rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà
  57. Tối ba mươi khép cánh càn khôn, ních chặt lại kẻo Ma vương đưa quỷ tới,
    Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ rước Xuân vào
  58. Đêm ba mươi Thầy giáo tháo giày chờ Tết đến
    Sáng mồng một giáo chức dứt cháo đợi Xuân qua

Thứ Năm, 2 tháng 12, 2010

Hậu duệ hoàng tộc chạy xe ôm, bán vé số

Tác giả: DUY NHÂN (Người Lao Động)

Ở một nơi heo hút, trong căn nhà tranh vách lá có một vị hoàng thân. Đó là ông Nguyễn Phước Bảo Tài, cháu nội vua Thành Thái.
Tôi gặp Nguyễn Phước Bảo Tài khi ông đang ngồi ăn chung một dĩa cơm với vợ trong quán nhỏ đối diện chợ An Bình, quận Ninh Kiều - TP Cần Thơ. Có lẽ, trong số những hậu duệ của vị vua yêu nước Thành Thái, người cháu nội Bảo Tài là nghèo khó nhất. Hằng ngày, ông phải chạy xe ôm, còn vợ đi bán vé số để mưu sinh.
 
Hoàng gia lưu lạc
Cách nay khoảng 6 năm, ông Bảo Tài cùng vợ là bà Nguyễn Bích Thủy rời ngôi nhà có đến 3 đời họ Nguyễn Phước cùng chung sống trong một con hẻm nhỏ trên đường Phan Đình Phùng, quận Ninh Kiều, về quê vợ ở xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Điền - TP Cần Thơ mượn đất cất nhà ở tạm đến giờ.
Căn nhà tranh vách lá của vị hoàng thân này rộng chừng 20 m2, nằm khuất trong một xóm nghèo heo hút. Trong nhà không có gì đáng giá, ngoài một số kỷ vật của gia chủ. Trong đó, có cả cặp nạng gỗ mà Bảo Tài đã từng sử dụng khi ông bị tai nạn nghề nghiệp gãy chân hơn một năm trước.   Kệ thờ được chắp vá từ nhiều mảnh gỗ vụn đặt trang trọng hai bức ảnh vua Thành Thái lúc còn trên ngôi và khi bị đày ở đảo Réunion bên cạnh ảnh hoàng phi Chí Lạc, phía dưới là ảnh ông Nguyễn Phước Vĩnh Giu - một trong 9 người con của vua Thành Thái và hoàng phi Chí Lạc.
Theo một số tài liệu về dòng họ Nguyễn Phước ở Cần Thơ, sau khi trả tự do cho gia đình cựu hoàng Thành Thái trở về nước, chính quyền bảo hộ đã dùng nhiều thủ đoạn để chia cách mỗi người một phương. Năm 1949, hoàng tử Vĩnh Giu bị đưa xuống Cần Thơ để tham gia đội cầu đường thuộc Ty Giao thông Công chánh. Năm 1951, ông kết hôn với bà Lý Ngọc Hóa, người quê gốc Cần Thơ và sinh được 7 người con, trong đó có Bảo Tài.   Để có tiền nuôi con, ngoài giờ làm việc, hằng đêm ông Vĩnh Giu còn đi làm nhạc công cho các quán bar trong TP.
Chính quyền bảo hộ vẫn luôn tìm cách gây khó khăn nên các con ông không ai được học hành đến nơi đến chốn. Năm 1975, ông Vĩnh Giu thôi làm đốc công ở Ty Giao thông Công chánh, đưa gia đình về sống nương nhờ nhà mẹ vợ trong một con hẻm trên đường Phan Đình Phùng. Tại đây, ông Vĩnh Giu làm nghề sửa xe đạp để mưu sinh.

Vua Thành Thái, hoàng phi Chí Lạc và hoàng tử Vĩnh Giu được thờ phụng trong nhà ông Nguyễn Phước Bảo Tài, Ảnh Người Lao Động  

Hoàng thân Bảo Tài hồi tưởng: "Trong nhà khi ấy, có đến gần 20 người nhưng chỉ anh hai Bảo Bồi là có việc làm ổn định, những người con trai còn lại đều chạy xe ôm hoặc làm thuê. Không có tiền mua xe, nhiều người phải thuê để chạy. Năm 2007, cha tôi mất, 2 năm sau thì anh Bảo Bồi cũng theo ông".
Đến nay, những người trong gia đình Nguyễn Phước ở Cần Thơ đã dần vượt qua được khó khăn nhờ con cháu họ lớn lên có việc làm ổn định, riêng ông Bảo Tài hằng ngày vẫn phải kiếm sống bên chiếc xe ôm. Chiếc xe tuy cũ nhưng là phương tiện mưu sinh duy nhất của ông. Đó cũng là quà tặng của người đi cùng đoàn với nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong chuyến về thăm ông Vĩnh Giu cách nay hơn 5 năm.

Quan trọng mình là ai chứ không phải xuất thân như thế nào
Hoàng thân Bảo Tài sinh năm 1964, đến năm 2004 mới lấy vợ và sinh được bé gái Nguyễn Phước Thanh Tuyền. Thanh Tuyền nay 4 tuổi, có khuôn mặt thật đẹp nhưng bị bệnh tật từ khi mới lọt lòng. Bảo Tài nói đó là nỗi đau lớn nhất trong cuộc đời ông. Giờ ông cũng không hiểu chính xác được căn bệnh của con mình, chỉ nghe bác sĩ bảo là suy não.
Thanh Tuyền dường như thiếu khả năng tự tư duy và đi lại, thỉnh thoảng bé lại bị co giật, té ngửa. Ông Bảo Tài cho biết lúc chào đời, bé chỉ cân nặng 0,9 kg. Bác sĩ khuyên phải chăm sóc bằng chế độ dinh dưỡng đặc biệt mới hy vọng bé phát triển bình thường nhưng vợ chồng ông làm đầu tắt mặt tối mà chỉ đủ mua cho con được 4 hộp sữa giấy loại rẻ tiền. Có lần nghe người mách về một loại sữa bột bổ não gì đó, Bảo Tài cũng muốn cho con dùng thử nhưng khi đến tiệm, ông đành tiu nghỉu ra về vì không đủ tiền mua.
Bà Nguyễn Bích Thủy ôm Thanh Tuyền vào lòng, nghẹn ngào: "Bận đi làm nên chúng tôi phải gửi cháu cả ngày cho người dì giữ hộ. Cháu vẫn nhận thức được nhưng chậm, đôi khi muốn nói vài từ đơn giản cũng phải suy nghĩ hồi lâu mới cất tiếng được. Do không thể chơi đùa nên cháu chỉ thích ngồi xem tivi. Nhưng hơn tháng trước, cháu phát bệnh mà trong nhà không có tiền, nhìn đi nhìn lại chỉ còn chiếc tivi, chồng tôi đành mang đi cầm lấy 200.000 đồng để mua thuốc. Người ta biết hoàn cảnh mới đồng ý cầm chứ chiếc tivi ấy có bán cũng chẳng được giá đó".

Vợ chồng ông Nguyễn Phước Bảo Tài trên đường ra chợ chạy xe ôm và bán vé số, Ảnh Người Lao Động

Một lần nhìn con bị bệnh tật hành hạ, ông Bảo Tài không chịu nổi nên đã tìm đến Sở LĐ-TB-XH TP Cần Thơ xin được giúp đỡ. Sau đó, UBND xã Nhơn Nghĩa mời ông lên gặp và đề nghị gia đình chọn một trong 3 phương án: Đưa Thanh Tuyền đi tuyến trên điều trị, cho bác sĩ đến tận nhà chữa bệnh cho cháu hoặc trợ cấp tiền hằng tháng.
Cân nhắc thật kỹ, cuối cùng ông Bảo Tài đành chọn phương án nhận tiền trợ cấp để mua thêm thuốc men và sữa cho con nhưng chờ hoài mà vẫn không thấy đâu. Ông rầu rĩ: "Cách nay hơn một tháng, cán bộ xã đến nói vợ chồng tôi vẫn còn sức lao động, chưa đến mức khó khăn để phải giải quyết trợ cấp cho cháu. Tôi buồn lắm nhưng rồi cũng đành chịu thôi".

Tôi thật sự lấy làm lạ với thân thế Nguyễn Phước Bảo Tài, không chỉ do ông quá nghèo khó phải chạy xe ôm mưu sinh mà còn vì ít người biết đến người cháu nội của vua Thành Thái.

Thậm chí, khi về tận nơi Bảo Tài đang sinh sống, tôi hỏi thăm nhiều người mà vẫn không ai biết đến tên ông. Mãi đến khi tôi hỏi về "chồng của bà Nguyễn Bích Thủy", có người mới nhớ ra "ông già chạy xe ôm có khuôn mặt hơi đạo mạo" ấy.   Bảo Tài kể có lần một tờ báo đăng tin ông là cháu nội vua Thành Thái, khi dừng xe bên lề đường đón khách, nhiều người qua lại nhìn ông lom lom dò xét rồi xầm xì: "Ông này mà có dính dáng tới vua chúa à? Cháu vua sao khổ dữ vậy?"...

Ông Bảo Tài chưa bao giờ nhắc chuyện thân thế hoàng tộc hoặc than vãn với ai về cuộc sống nghèo khó của mình. Bởi, ông nghĩ chính cha mình vốn là hoàng tử mà cả đời có bao giờ được sống trong giàu sang nhung lụa đâu? Thậm chí, cả vua Thành Thái cũng chấp nhận rời bỏ tòa lâu đài trên đảo Réunion để ra ngoài sống đời lao động.

Ông Bảo Tài tâm sự: "Tôi nghĩ điều quan trọng mình là ai chứ không phải xuất thân như thế nào. Tuy nhiên, trong thâm tâm, tôi tự hào về các bậc tiền nhân của mình và tự nhủ với lòng phải sống sao cho xứng đáng với họ. Cha cũng như ông nội tôi và bác là vua Duy Tân đều là những người bất khuất trước kẻ thù xâm lược và không màng danh lợi".   Bảo Tài còn bộc bạch rằng có lẽ ông nghèo vì không bắt kịp thời cuộc nhưng lịch sử thì vẫn sẽ còn ghi mãi những cái tên Thành Thái, Duy Tân... Dứt câu chuyện, ông khoác vội chiếc áo gió cũ sờn rồi lên chiếc xe máy đã bạc phếch màu sơn hòa vào dòng người giữa phố thị.

Võ bùa hay Thất Sơn thần quyền.

Vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước, làng võ Việt xôn xao bởi sự xuất hiện của một phái võ kỳ lạ, gọi là "võ bùa" hay "thần quyền". Người theo môn võ ấy không cần luyện tập quyền cước mà chỉ cần thổi hương, uống bùa, gọi thần chú là có sức mạnh muôn người khôn địch...Bởi cách thức có phần thần bí đó mà nhiều môn phái khác đã tìm các lò dạy võ bùa để tìm hiểu thực hư, phân tài cao thấp. Sự "truy sát" ấy, cùng nhiều lý do khác nữa nên chỉ ít thời gian sau, võ bùa phải lui vào ẩn dật.
Gần đây, trước sự nở rộ trở lại của phong trào học võ, lại có lời đồn võ bùa đang "tái xuất giang hồ". Chúng tôi đã đi tìm hiểu thực hư xung quanh môn võ này.

Cao nhân ẩn tích

Sau màn ra mắt vào những năm 80 của thế kỷ trước, võ bùa bỗng dưng mất hút một cách khó hiểu trên "chốn giang hồ". Không ai biết đệ tử của võ bùa ở đâu, hiện đang sống như thế nào, còn lao tâm khổ tứ tập luyện hay không?

Gần đây, một lần lang thang trên mạng, tôi tình cờ đọc được thông tin của một môn sinh "chánh phái" nói rằng, trước đây có hai cao thủ phái Thất Sơn đem võ bùa về dạy ở Hà Nội và chính họ là những sư phụ đầu tiên của môn phái ở đất Kinh kỳ. Thông tin trên mơ hồ, chỉ nói người thứ nhất tên Thành, làng võ vẫn gọi là Thành "vuông", người thứ hai tên là Chín, giang hồ gọi là Chín "cụt".

Liên hệ với một số cao thủ võ lâm ngoài Bắc thì được biết, Thành "vuông" tên đầy đủ là Nguyễn Văn Thành, từng sống ở khu vực Ô Chợ Dừa (Hà Nội), giờ đã qua Nga lập nghiệp. Người thứ hai là Chín "cụt", tên đầy đủ là Ngô Xuân Chín, là thương binh, hiện không biết phiêu dạt phương nào.

Thông tin trên làm tôi nhớ lại lần trò chuyện với võ sư Chu Há, Chủ nhiệm võ đường Hồng Gia. Võ sư Há cho biết, thủa trước, Chín "cụt" có tham gia một số phong trào thể thao của người khuyết tật và ngay từ buổi đầu tiên ấy, Chín cùng đệ tử đã từng dùng võ bùa để giành huy chương vàng một hội khỏe năm 1986.

Nhờ manh mối này, tôi vội tìm đến ông Vũ Thế Phiệt, Tổng Thư ký Hiệp hội Thể thao người khuyết tật Việt Nam. Từ số điện thoại ông Phiệt cho, tôi đã tìm được "cao nhân" ẩn tích bấy lâu nay - ông Chín.

Phận duyên tiền định

Vợ chồng ông Xuân Chín hiện đang sống ở một khu đô thị yên ả trên đường Lạc Long Quân (Hà Nội). Trò chuyện, Xuân Chín bảo, Thất Sơn thần quyền với ông như có duyên trời định.

Thời trai trẻ, Chín là lính trinh sát đóng quân ở tỉnh biên giới Cao Bằng. Khi còn ở quê nhà, bởi hiếu động nên Chín từng theo đám trai làng lăn lộn học quyền cước của mấy võ sư vườn, cũng lận lưng dăm ba miếng phòng thân. Bởi thế, khi hay tin trong trung đoàn có một đồng đội thường diễu quyền, phóng cước sau khi xong xuôi việc nhà binh, Chín muốn tìm đến xem "mặt mũi" thế nào và nhân thể thử tài luôn để phân cao thấp.

Sau nhiều lần hò hẹn, "thằng cha" đó cũng nhận lời thách đấu. Thế nhưng sau 2 lần "tỉ thí", Chín đều thua không kịp vuốt mặt. Chín đấm, đá cật lực mà cứ như đánh vào bị bông, đối thủ chẳng hề đổi thay sắc mặt. Đánh nhiều đuối sức, chùn tay, nên đành phải xin thua.

Từ sau trận quyết đấu đó, hai người trở thành bạn. Lúc này Chín mới biết người kia theo học Thần quyền của phái Thất Sơn, từ một sư phụ ở quê nhà, xã Văn Khúc, huyện Sông Thao, tỉnh Phú Thọ. Những câu chuyện mà người bạn kể về môn phái lạ lùng đã khiến Chín mê mệt. Anh ước ao có ngày được về quê bạn bái vị sư phụ ấy làm thầy.

Và rồi cái ngày anh mong mỏi ấy cũng đến. Được sự giới thiệu, ngay đêm hôm ấy, anh đã được diện kiến kỳ nhân. Người ấy là danh sư Nguyễn Văn Lộc, một nông dân chân chất, cũng chỉ hơn anh cỡ trên chục tuổi.

Thế nhưng hôm ấy, ý nguyện, mơ ước của anh đã không thành. Dù đã cố nài nỉ hết nước hết cái nhưng vị danh sư ấy vẫn không chịu thu nạp Chín làm đệ tử. Tuy mưu sự không thành nhưng anh vẫn không thôi hi vọng của mình.

Chừng tháng sau, anh lại tay nải từ Cao Bằng tìm về Phú Thọ. Lần này, thứ mà anh nhận được vẫn chỉ là những cái lắc đầu. Thế rồi, một lần (năm 1981), lúc đi làm nhiệm vụ, anh bị thương phải cắt bỏ hoàn toàn chân phải. Khi vết thương liền da, nhớ miền quê Văn Khúc và ông thầy võ... khó tính, anh lại lóc cóc tìm về.

Đi cùng anh lần này có cả Thành "vuông", một chàng trai Hà Nội, nghe tiếng vị sư phụ kỳ lạ mà háo hức muốn được tỏ tường. Gặp mặt, vị danh sư nói thẳng thừng: "Anh lành lặn tôi còn không nhận, huống chi nay đã là người tàn phế! Anh không học võ được đâu!". Câu nói đó đã làm ruột gan Chín quặn thắt. "Đau" hơn khi bạn đồng hành với anh, Thành "vuông", lại được sư phụ thu nạp.

Uất ức, trước khi ra về anh... thề: "Sư phụ nhận tôi thì 6 tháng tôi xuống một lần! Không nhận thì tháng nào tôi cũng xuống!". Tháng sau, một mình, anh xuống thật. Lần này, thấy anh lóc cóc chống nạng vượt quãng đường hơn 15 cây số, vị danh sư đã động lòng trắc ẩn. Ông đã đồng ý truyền võ cho anh nhưng với điều kiện chờ ngày tốt, về Bắc Giang ông mới dạy.

Võ phái kỳ lạ

"Ngày tốt" ấy là ngày 9/10/1984. Đã hẹn trước, anh Chín có mặt tại nhà một người quen của sư phụ ở làng Mỹ Độ, sát thị xã Bắc Giang. Đến được ít phút thì sư phụ anh cũng xuất hiện. Ngay chiều hôm ấy, anh đã thành người của phái Thất Sơn. Cũng ngay ngày hôm ấy, anh mới tường tận về môn phái của mình.

Theo lời thầy Lộc thì "thủ phủ" của Thất Sơn thần quyền nằm ở Huế, do tông sư Nguyễn Văn Cảo nắm quyền chưởng môn. Sáng tổ Nguyễn Văn Cảo học thần quyền từ một vị cao tăng người Ấn Độ. Cao tăng lưu lạc sang Việt Nam từ khi nào thì đến giờ vẫn không ai biết rõ. Tới Việt Nam, ông chọn vùng Bảy Núi (An Giang) làm chốn tu hành. (Có lẽ bởi bậc thánh nhân tu luyện nơi non thiêng này nên thầy Cảo đã đặt tên môn phái của mình là Thất Sơn).
Dựa trên những căn bản mà vị tu sĩ lạ lùng ấy truyền dạy, thầy Cảo đã truyền dạy thần quyền cho nhiều người khác. Thần quyền học nhanh, do vậy chỉ trong thời gian ngắn, ở Huế đã có rất nhiều người trở thành môn đồ của võ phái này.

Khi nhập môn, môn đồ của môn phái phải đứng trước ban thờ thề đủ 9 điều (Càng học cao thì số lời thề càng tăng thêm và cao nhất là 16 điều). Sau đó, mỗi người sẽ được sư phụ mình phát cho hai lá bùa hộ thân, một vuông, một dài. Trên những lá bùa ấy có vẽ hình đạo sĩ ngồi thiền và những "thông số", "mật mã" riêng của môn phái.

Trước khi truyền thụ những câu thần chú, bí kíp võ công của môn phái thì hai lá bùa ấy được đem đốt, lấy tro hoà vào nước cho người mới nhập môn... uống cạn. Thần chú của môn phái thì có rất nhiều, gồm chú gồng, chú xin quyền, chú chữa thương... Đã được truyền thần chú thì môn sinh cứ tự mình gọi chú mà xin sức mạnh, mà tập quyền cước.

Tuy thế, trước khi tập, người luyện thần quyền phải được sư phụ mình khai thông tất cả các huyệt đạo trên cơ thể. Việc ấy, các sư phụ của Thất Sơn thường làm bằng cách dùng nắm nhang đang nghi ngút khói thổi vào huyệt đạo của đệ tử. Với môn sinh là nam giới thì dùng 7 nén nhang thổi 7 lần vào mỗi huyệt đạo. Môn sinh là nữ thì dùng 9 nén, thổi đúng 9 lần.

Thần chú vào... võ công ra

Anh Chín kể, hôm ấy, xong nghi thức nhập môn, sư phụ Lộc đã kéo anh ra sân và chỉ trong vòng 1 giờ đồng hồ, ông đã truyền thụ xong xuôi cho anh lời chú xin quyền.

Theo lời của sư phụ Lộc, lời chú ấy anh không được phép tiết lộ cho bất kỳ ai nếu chưa được phép của những người đứng đầu môn phái. Truyền chú xong, sư phụ anh bảo, cứ nhẩm theo câu chú ấy mà luyện. Chú "nhập" đến đâu thì công phu tự khắc... ra đến đó.

Thấy thầy dạy mình quá nhanh, anh hết sức ngạc nhiên. Cứ nghĩ, có lẽ bởi gượng ép khi thu nạp nên thầy Lộc mới dạy anh một cách sơ sài đến vậy. Sau này, khi trình độ bản thân được nâng cao, anh mới biết, với anh cuộc truyền thụ kỹ năng cơ bản của môn phái như vậy là quá lâu.

Thường thì khi truyền chú cho đệ tử khác, thầy Lộc chỉ làm trong thời gian vỏn vẹn 15 phút là xong. Anh cũng vậy, khi được phép dạy đệ tử, anh cũng chỉ mất ngần ấy thời gian là đã... hết bài. Còn học như thế nào, luyện như thế nào, trình độ đạt đến đâu là cơ duyên của mỗi người chứ thày không chỉ bảo được.

Ngay chiều hôm ấy, thầy Lộc đã kéo anh ra khoảng sân rộng, bắt đầu luyện tập quyền pháp. Trước khi tập, thầy lấy nắm nhang nghi ngút khói thổi vào tất cả những huyệt đạo trên cơ thể anh. Làm xong, thầy bảo anh nhẩm đọc chú để... gọi võ về. Thật ngạc nhiên, khi vừa đọc chú xong, anh bỗng thấy mình lâng lâng như người say rượu. Lúc thì thấy tay mình nhẹ bẫng, lúc thì thấy nặng như đang khuân cả khối sắt trăm cân.

Chín kể, khi đã "nhập đồng", cứ thấy nhẹ bên tay nào là "chưởng" đánh ra tay ấy. Trạng thái không kiểm soát ấy đã khiến anh lúc thì lăn lộn trên đất, lúc thì nhảy tưng tưng trên không, lao đầu vào tường, vào bụi gai cũng không hề hay biết.

Tỉ thí tranh tài


Hết nghỉ phép, Xuân Chín về nơi an dưỡng. Vì đang chờ chế độ nên anh có nhiều cơ hội để luyện tập môn võ mà mình vừa được học. Cứ đêm đến, anh lại một mình chống nạng lên quả đồi ở gần đó luyện tập. Sáu tháng sau, anh quay lại Văn Khúc để thầy Lộc kiểm tra "trình độ".

Sau bữa cơm chiều, thầy Lộc bảo ông sẽ không trực tiếp kiểm tra mà nhờ thầy "cao tay" hơn thẩm định. Vị ấy tên Cư, ở bến phà Tình Cương, cách nhà thầy Lộc chừng 25 cây số. Thần quyền ở Văn Khúc chính là do ông Cư mang từ trong Huế ra truyền dạy.

Tối hôm đó, hai thầy trò đã đèo nhau đến nhà ông Cư. Biết Chín muốn thử trình độ của mình, ông Cư đã gọi hai đệ tử to như hộ pháp đến. Trước khi đánh, ông Cư giới thiệu, hai đệ tử của ông được gọi là những “cây đấu” của Thất Sơn. Những ai muốn "khẳng định thương hiệu" của riêng mình thì đều phải đánh với hai "cây đấu" ấy.

Ngay phút khởi động, một “cây đấu” đã táng thẳng vào mặt Chín cú "thôi sơn" khiến anh nổ đom đóm mắt. Nhưng ngay sau cú đánh ấy, anh thấy mình tự dưng lùi ra, quay hẳn lưng vào đối thủ. Chẳng cần để mắt động tác khó hiểu của anh, người tấn công lại ngay lập tức lao vào. Thế nhưng, vừa vào gần đến nơi thì bỗng nhiên tay phải Chín vung ra một cú đòn cực mạnh. Một tiếng “bốp” chát chúa vang lên, “cây đấu” ấy bị đánh văng ra góc sân và nằm bất động.
Thấy đệ tử mình bị hạ nhanh một cách khó hiểu, ông Cư vội vàng chạy đến xem thực hư thế nào. Cậu học trò cưng nằm im, mồm miệng be bét máu. Phần thắng đã thuộc về Chín.

Sắp xếp công việc, ít lâu sau, anh Chín lại theo thầy Lộc vào Huế để nhờ tông sư môn phái kiểm tra trình độ thật sự của mình. Chưởng môn phái Nguyễn Văn Cảo (phường Phú Cát) đã đón hai thầy trò anh rất thân tình.

Hôm ấy, nhà thầy Cảo có một đệ tử học Thần quyền được 10 năm, từ Quảng Bình vào thăm. Thầy Cảo bảo Chín đấu với người này. Kịch bản của trận đấu ở Phú Thọ đã được lặp lại. Vào trận, ngay màn dạo đầu, Chín dính đòn tới tấp. Thế nhưng, trong lúc nguy nan, tự nhiên anh thấy chân mình mềm oặt. Xoay lưng lại đối thủ, anh quỳ xuống như người bị trúng đòn chí mạng. Đối thủ thấy vậy thừa thắng lao lên...

Nhưng, như có phép tiên, dù chỉ còn mỗi chân trái mà anh vẫn bật vút lên, lộn trên không một vòng rồi tung cú "thiết cước" vào thẳng bụng đối thủ. Cú đá ấy đã làm vị kia văng ra, thầy Cảo ngay lập tức cho dừng trận đấu. Sau trận đấu đó, bởi quá khâm phục sự tiến bộ kỳ lạ của anh, thầy Cảo đã cân nhắc để anh được thăng đai vượt cấp.

Thế nhưng, điều đó chưa từng có tiền lệ trong môn phái nên thầy đành để anh ở đai đỏ xuất sư. Người đeo đai đó thì đã có thể làm thầy, truyền thụ võ công cho những môn sinh khác. Sáu tháng sau, vào lại Huế, lần này chưởng môn Nguyễn Văn Cảo đích thân ra chợ mua chỉ về se đai tím cho anh.

Dựng nghiệp bất thành

Rời quân ngũ, anh Chín về quê sinh sống, thỉnh thoảng ra Hà Nội gặp gỡ bạn bè. Những năm ấy, phong trào chấn hưng võ thuật cổ truyền ở thủ đô đang ở cao trào, thấy Thất Sơn thần quyền của mình chưa có một tên tuổi trong làng võ Việt, anh và một số người bạn đã quyết tâm gây dựng môn phái.

Để khẳng định sức mạnh của Thần quyền, Hội khoẻ Phù Đổng năm 1986 được tổ chức ở Hà Nội, các bạn anh đã tiến cử anh tham gia. Chuẩn bị cho sự kiện này Chín đã lặn lội lên Cao Bằng, tìm cậu bé mà trước đây anh đã ngẫu hứng truyền thụ võ công, đưa về Hà Nội cùng mình biểu diễn. Cậu bé ấy tên Điệp, khi ấy vừa tròn 6 tuổi.

Tại sân vận động Hàng Đẫy, với tiết mục thần quyền của mình, hai thầy trò một tàn phế, một tóc còn để chỏm đã dinh về hai tấm huy chương vàng trước sự trầm trồ, thán phục của mọi người.

Sau màn ra mắt, được sự "chỉ đường mách lối" của cố võ sư Đỗ Hoá, anh cùng các bạn đã tìm đến một chức sắc ở Hội Võ thuật cổ truyền Hà Nội nhằm đưa môn phái "phát dương quang đại". Thế nhưng, nhiều người cho rằng Thất Sơn thần quyền là tà thuật, mê tín dị đoan nên mong ước của anh đã không thể thành hiện thực.
Dựng phái không thành, anh em tan rã mỗi người một nơi, Xuân Chín đâm nản. Tuy thế, sau này, tham gia phong trào thể thao người khuyết tật, anh vẫn đem thần quyền đi biểu diễn ở khắp nơi.

Năm 2004, tại một cuộc liên hoan võ thuật tại Hàn Quốc, anh đã được ban tổ chức trao tặng huy chương vàng cho tiết mục thần quyền độc đáo của mình. Càng hạnh phúc hơn khi ngay sau đó, hình ảnh của anh, một người cụt chân đang thăng hoa cùng quyền thuật đã được ban tổ chức in lên lịch lưu niệm tặng các vận động viên tham gia.

Cũng từ dạo ấy, bởi cuộc mưu sinh anh đã thôi không tham gia phong trào thể thao nữa. Thần quyền anh cũng ít tập hơn và cũng không truyền dạy bí kíp võ công này cho bất kỳ ai...

Lời thề của phái Thất Sơn
Một lòng hiếu thảo với cha mẹ; Không phản môn phái; Không phản thầy; Không phản bạn; Coi bạn như anh em ruột thịt; Không cưỡng bức kẻ yếu; Không làm điều gian ác; Không ham mê tửu sắc; Không nản chí khi luyện tập; Không thoái lui lúc nguy hiểm; Luôn bảo vệ kẻ yếu; Nhịn kẻ mất lòng ta; Thi hành nghiêm chỉnh những lời thầy dạy; Ôn hoà trong tình bạn; Không tự cao tự đắc; Cứu người trong lúc nguy nan...

(sưu tầm)

Khoảnh khắc kỳ quặc của tử tù trước khi ra pháp trường

Thì vẫn biết rằng, thái độ của các tử tù có thể khác nhau khi đón nhận cái chết đền tội. Song, dù sợ hãi hay bình tĩnh thì tất thảy họ đều ân hận khi mà chính họ, chứ không phải ai khác đã tước đi quyền được sống của bản thân mình…

Tử tù nặn cơm thành… súng cho đỡ nhớ


Khi bản án tử hình được tuyên, ấy là khi cái chết đã được định đoạt đối với các tử tù. Câu hỏi của cổ nhân: “Sinh có hạn, tử bất kỳ” đúng với tất cả những con người bình thường của nhân gian, ngoại trừ các tử tù. Bởi, với họ, cái chết đã được báo trước. Ở Trại giam, các tù nhân thường gọi tử tù là “ma sống”…


Thế nên, những ngày đợi chờ ra pháp trường là những ngày mà các tử tù sống một cuộc sống khác thường. Cuộc sống mà ở đó, sự sợ hãi đến hoảng loạn đã khiến tất cả họ đều trở nên bất bình thường. Khi cái chết càng đến gần là khi niềm tiếc đời, là khi khát vọng sống càng trở nên mãnh liệt, khiến cho tất cả mọi trạng thái cảm xúc đều dường như được đẩy đến đỉnh điểm, đôi khi đến mức điên loạn.


Có khi thoắt vui rồi lại thoắt buồn. Có khi vừa cười nói vui vẻ bỗng ôm mặt khóc hu hu như một đứa trẻ. Có khi lại vô cớ trút giận dữ bực tức cả vào quản giáo - những người phải tiếp xúc thường xuyên với các tử tù. Có tử tù vì lý do nào đó mà gia đình bỗng dưng không gửi đồ tiếp tế nữa nên cứ nhằm vào quản giáo mà chửi, cho rằng quản giáo đã cắt tiếp tế của mình.

Người quản giáo giải thích thế nào tử tù này cũng không nghe. Một thời gian sau, chắc là cơn bất ổn về thần kinh đã qua, tử tù này lại chắp tay xin lỗi quản giáo. Có tử tù chẳng ốm đau gì, vừa mới hát ông ổng lại gào lên kêu cứu làm các đồng chí quản giáo suốt đêm nhấp nhổm không yên. Còn chuyện tử tù nổi cơn khùng hắt cả bô nước tiểu vào người quản giáo và các phạm nhân phục vụ thì đã xảy ra nhiều ở trại giam.


Một quản giáo có thâm niên làm công tác quản lý tử tù tại Trại giam Hà Nội đã nói về sự khác thường ấy bằng một định nghĩa rất vần điệu rằng: “Tử tù là sáng nắng, chiều mưa, trưa giở mặt”.


Có những tử tù khi không gào thét, cũng không khóc lóc, không điên khùng nhưng lại nghĩ ra những trò chơi quái chiêu khiến quản giáo.. dựng tóc gáy mà câu chuyện của Nguyễn Hồng Kỳ là một ví dụ. Kỳ là một tướng cướp ở Hải Phòng, bị tuyên án tử hình khi mới 19 tuổi. Nhìn bề ngoài, trông Kỳ rất thư sinh trắng trẻo, nom giống một cậu học trò hơn là một tướng cướp.


Nhưng ẩn bên trong vẻ ngoài trong sáng, thư sinh ấy là sự hung hãn đến độ bất thường, như là từ trong máu huyết. Kỳ có một sở thích rất giang hồ, đó là mê… súng. Khi còn ở ngoài xã hội, chưa bị bắt, Kỳ đã từng nhiều lần tuyên bố với đám giang hồ rằng, đối với y thì “cứ có súng là có tất cả”. Vì thế, trong tất cả các vụ cướp ở Hải Phòng mà Kỳ gây ra, vụ nào Kỳ cũng… nổ súng. Thậm chí có vụ Kỳ còn hai tay hai khẩu lăm lăm chĩa vào người bị hại và chỉ cần người bị hại có bất kỳ một động thái chống trả nào là Kỳ… bóp cò.


Sau khi bị tuyên án tử hình, Kỳ không làm đơn xin tha tội chết. Người quản giáo hàng ngày trông coi Kỳ thấy lạ mới hỏi, tại sao lại từ chối ân huệ cuối cùng ấy thì Kỳ bảo:“Tội của cháu lẽ ra phải dăm bảy án tử hình mới xứng”…


Trong những ngày chờ ra ngoài pháp trường, Kỳ tỏ ra khá lành hiền, ngoan ngoãn chứ không quậy phá như nhiều tử tù khác. Nhưng cũng không vì thế mà những người quản giáo lơi là trong việc quản lý trông coi Kỳ. Bởi, nghề coi tù là một nghề đặc biệt, không bao giờ được phép bất cẩn, sơ suất.


Cho đến một hôm, khi kiểm tra xà lim của Kỳ, người quản giáo bỗng lạnh sống lưng khi thấy ngay bên cạnh chỗ nằm của y là một… khẩu súng. Kiểm tra, hóa ra đó chỉ là một khẩu súng làm bằng… cơm. Thì ra, ngày ngày, Kỳ bớt lại một ít cơm trong khẩu phần ăn để tích lại cần mẫn nhào nặn thành hình… khẩu súng, đặt ở bên người cho đỡ… nhớ(!)


Nhưng trò chơi nặn… súng như Kỳ cũng mới chỉ là một trong rất nhiều tò quái ở khu giam tử hình. Như “chơi cờ mồm” chẳng hạn. Một quản giáo có thâm niên trông coi tử tù bảo rằng, anh dám đánh cược rằng, đố ai có thể tìm thấy môn thể thao đặc biệt này ở đâu, ngoài khu giam tử hình. Này nhé, không quân cờ, không bàn cờ, hai người chơi cũng không thấy mặt nhau bởi giam ở hai buồng riêng biệt. Đường đi, nước bước, thắng – thua, hoàn toàn chỉ bằng mồm. Ấy thế mà, các tử tù có thể chơi môn cờ mồm với nhau hết ngày nọ qua tháng kia.


Lại có tử tù thì suốt ngày chỉ lẩm nhẩm bấm đọn, xem tử vi để tính ngày… đi. Có một tử tù tuổi Hợi, cứ đến ngày Dần là hét toáng lên từ đêm đến sáng chỉ có mỗi câu chào: “Vĩnh biệt” vì theo suy đoán của anh ta thì ngày ra pháp trường chắc chắn chỉ có thể là ngày Dần mà thôi. Hổ vồ lợn mà.

Những bóng ma trừng phạt giữa ban ngày

Thông thường, ở tất cả các trại giam, cuộc thi hành án tử hình bao giờ cũng bắt đầu từ lúc tinh mơ và buộc phải kết thúc trước khi mặt trời lên. Có nhiều cách lý giải về chuyện này nhưng có một cách xem chừng có lý nhất. Đó là việc thi hành án tử hình là loại trừ cái ác, cái xấu ra khỏi đời sống xã hội vì thế mà nó phải kết thúc trước khi bình minh của một ngày mới bắt đầu.


Cũng chính bởi vậy mà đối với các tử từ, bình minh của họ lại bắt đầu kể từ lúc lặn mặt trời. Ban ngày họ ngủ lấy sức để ban đêm thức chờ… ra trường bắn. Quãng thời gian từ 2 – 3 giờ sáng là quãng thời gian khủng khiếp nhất của các tử tù. Họ sống trong sự sợ hãi đến nghẹt thở, trong nỗi thấp thỏm chờ đợi cái chết sắp đến gần.


Một trường bắn ở Củ Chi


Sau khoảng thời gian này, chờ đợi đến chừng 4 giờ sáng mà không thấy tiếng mở khóa lách cách, tiếng cọt kẹt của cánh cửa nặng nề nơi khu xà lim mở ra khép lại là các tử tù thở phào nhẹ nhõm. Vậy là chưa có thêm một bản án nào nữa được thi hành và cuộc sống của họ lại được kéo dài thêm một ngày nữa. Tất cả lại ngủ vùi đến đêm lại thức, lại thấp thỏm, lại nghẹt thở, chờ đợi.


Nhưng cũng có những tử tù đặc biệt mà Quỳnh là một trường hợp như thế. Tôi gặp Quỳnh ở Trại giam số 5 Thanh Hóa 7 năm sau khi cô được ân giảm án tử hình. Thời gian đủ dài để Quỳnh quên đi nhiều biến cô đắng cay, đau đớn trong cuộc đời một người đàn bà như cô nhưng cô vẫn khóc khi tôi hỏi về cảm giác những ngày nằm chờ ra pháp trường trong xà lim.


Đôi vai gầy rung lên bần bật sau lần áo tù xanh xám. Quỳnh cũng có gần 1 năm sống trong sự chờ đợi nghẹt thở ấy nhưng không giống nhiều tử tù khác, cô chỉ muốn sao cho bản án tử hình được thi hành càng nhanh càng tốt. Bởi đối với cô, mỗi ngày sống thêm là một ngày đau đớn vì sự giằng xé của lương tâm. Cô, trong cơn điên loạn của sự ghen tuông, đã dã tâm ném đứa con chồng mới 4 tuổi qua lan can cầu Thăng Long xuống sông Hồng đúng đoạn nước chảy xiết nhất, đêm nào trong xà lim, dù thức hay ngủ, cô cũng nhìn thấy đứa con chồng vô tội hiện về.


Nó chập chờn trước mắt cô, mặc y nguyên bộ quần áo hoa xanh, giống hệt như khi cô đẩy nó xuống sông. Nó không nói gì cả. Cô bảo, giá mà nó cứ gào thét, cứ rủa xả cô thì cô sẽ đỡ đau đớn hơn. Đằng này, nó lại chỉ khóc. Hình ảnh ấy ám ảnh, đeo đuổi Quỳnh hàng đêm. Nó khiến trái tim cô đau đớn như bị hàng nghìn mũi kim đâm. Cô chỉ mong được chết vì cô hiểu, tội lỗi tày trời như cô, chỉ có cái chết may ra mới gột rửa được.

Những lời mơn trớn trần trụi

Cũng chính bởi các tử tù ngủ ban ngày và thức ban đêm nên ban ngày, ở khu giam tử hình thường im ắng một cách kỳ lạ nhưng khi bóng tối ập xuống, ở nơi đây là cả một núi những âm thanh hỗn độn.


Cuộc sống về đêm ở những xà lim biệt giam tử tù thật lạ kỳ. Tiếng gào thét, tiêng khóc lóc vật vã, cả những lời tự tình, yêu đương, đôi khi bạo liệt đến trần trụi… tất cả đều chỉ xuất hiện vào ban đêm. Có tử tù nhớ người yêu, đêm nào cũng tỏ tình, cũng vuốt ve, mơn trớn bằng… lời.


Bà trùm ma túy Nguyễn Thị Thơm, có nhiều đêm nhớ người tình quá, lồng lộn gào thét làm mất trật tự khu giam, cán bộ quản giáo phải nhắc nhở, giáo dục nhiều lần Thơm mới thôi… Ngày sinh nhật của người tình, ở trong buồng giam, Thơm đã làm một tấm thiệp rất đẹp, trang trí rất nhiều hoa văn, màu sắc rực rỡ bằng cách xé dán vỏ mì tôm, vỏ hộp sữa, vỏ bánh để tặng.


Thơm còn sáng tác một bài hát bằng tiếng Trung và làm thơ gửi cho người yêu với những lời lẽ tha thiết, nồng nàn:“Mình ơi, hôm nay là sinh nhật mình, em chẳng biết làm thế nào để đến bên mình được. Em chỉ biết ngồi khóc và làm tấm thiệp này, bao nhiêu nỗi nhớ và tình yêu em dành trọn trong tấm thiệp”.


Có những tử tù ngủ thì thôi chứ cứ hễ thức là bắt đầu gào thét chửi rủa những người có tư thù với mình đang giam ở các buồng giam khác hoặc đang còn ở ngoài xã hội mãi tít tận đẩu tận đâu. Có tử tù không chửi rủa mà chỉ la hét kêu oan, có khi vừa mới chối tội xoen xoét rồi lại xin được chết để đền tội.


Lại Thị Ngấn, một tử tù trong đường dây ma túy của Vũ Xuân Trường đã từng nhiều đêm diễn màn độc thoại: “Thưa quí tòa, tôi không có tội”. Một quản giáo có thâm niên trong nghề đã kể cho tôi nghe câu chuyện về một tử tù mà nước mắt chứa chan.


Chị kể rằng, đêm đêm, trong những ca trực chị đã thắt lòng khi nghe tiếng người đàn bà này nức nở gọi mẹ và sám hối với con. Nữ tù này người Hà Nội phạm tội lừa đảo. Chồng cũng phạm tội cùng với vợ và bị kết án chung thân. Chị ta còn mẹ già và hai đứa con. Đêm nào tử tù này cũng khóc mẹ và lạy hai con tha tội cho mình vì bản thân đã không làm tròn bổn phận.

Những giờ khắc đền tội

Pháp luật nước ta qui định rất chặt chẽ về trình tự thủ tục thi hành một bản án tử hình để tránh tình trạng “bỏ lọt kẻ gian, xử oan người vô tội”. Sau các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, kẻ tử tù còn được làm đơn xin tha tội chết gửi tới Chủ tịch nước.


Chỉ sau khi tòa án Nhân dân tối cao (NDTC) và Viện Kiểm sát NDTC không kháng nghị đối với bản án tử hình này và Chủ tịch nước bác đơn, không ân giảm cho kẻ tử tội thì bản án lúc đó mới được đem ra thi hành. Giống như một qui luật tất yếu của cuộc sống: kẻ gieo gió sẽ phải gặt bão. Cái ác sẽ phải bị loại trừ ra khỏi đời sống xã hội.


Ngày tử tù phải đền tội cũng sẽ phải đến. Pháp trường, có thể là một khu vực nằm kề trại giam nhưng cũng có thể là một nơi ở xa lắc xa lơ, cách khu giam có khi vài chục cây số. Trường bắn Cầu Ngà của Trại tạm giam Hà Nội nằm ở ngay phí sau Trại và con đường từ khu giam đến đây là một con đường độc đạo. Tử tù đã đưa đến đây và ở lại. Cuối con đường chỉ có những nấm mồ.


Một bản án tử hình khi được thi hành, cùng với những thủ tục bắt buộc đã được qui định trong Luật, vì chính sách nhân đạo, tử tù sẽ được ăn một bữa cơm cuối cùng thật thịnh soạn, được mặc quần áo mới và được viết thư về cho người thân. Khi tiếng khóa vang lên lách cách, cánh cửa xà lim mở ra là khi hầu hết các tử tù đều trở nên yếu mềm một cách lạ kỳ.


Lại Thị Ngấn là một ví dụ. Những ai đã tham dự phiên tòa xử Ngấn đều ngạc nhiên vì sự ngoan cố đến khó tin của “mẹ già heroin” này. Ngấn chối tội thuộc dạng siêu đẳng. Hỏi gì cũng không biết. Tại phiên tòa, Ngấn cũng bình thản đến lạnh lùng. Ngay cả khi tuyên án tử hình, Ngấn cũng vẫn giữ vẻ mặt lạnh lùng ấy và tịnh không rơi một giọt nước mắt. Nhưng khi thi hành án thì Ngấn lại sợ hãi đến mềm nhũn người, không thể bước đi nổi, hai tay cứ bíu chặt lấy người quản giáo.


Người nữ quản giáo hàng ngày vẫn quản lý, trông coi, chăm sóc Ngấn bây giờ lại phải dìu Ngấn đi, đánh răng, rửa mặt cho Ngấn và nói những lời động viên an ủi cho Ngấn ra đi thanh thản. Sau này, mẹ Ngấn kể lại rằng, linh cảm về cái chết của Ngấn đã bắt đầu trong bà từ lâu, ngay vào cái thời điểm mà vợ chồng Ngấn đang ở đỉnh cao của sự giàu có.


Sinh ra tại một làng quê nghèo thuộc huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên, Ngấn bỏ quê lên phố, buôn đường dài tuyến Điện Biên và rồi trở nên giàu có một cách nhanh chóng. Ngấn mua nhà mặt đường ở Hà Nội, xây khách sạn tư nhân.


Chứng kiến sự đổi thay đến chóng mặt của con, thay vì vui thì bà lại thấy bất an. Trái tim người mẹ mách bảo bà những linh cảm đau đớn. Trước khi Ngấn bị bắt chừng một tuần, đang ở quê, bỗng dưng bà thấy ruột gan nóng như lửa đốt và không hiểu sao bà chỉ nghĩ đến Ngấn chứ không hề nghĩ đến bất cứ đứa con nào trong đàn con của bà. Ngày ấy, điện thoại chưa sẵn như bây giờ.


Nhà không có điện thoại riêng, bà định bụng ngày mai sẽ bắt xe ra Hà Nội tìm con. Nhưng rồi, cái đống lửa trong lòng bà cứ thế bùng lên, thiêu đốt tâm can bà khiến bà không chịu được. Xẩm tối, bà tất tả ra bưu điện ở mãi phố huyện, gọi điện cho Ngấn. Khoảng hai tiếng sau thì Ngấn về. Bà đưa con ra chùa, thấp nến, đốt nhang, hai mẹ con quì trước cửa thiền.


Trong ánh nến mờ ảo, bà thấy gương mặt Ngấn trở nên khác lạ. Những lo âu giờ đã dồn nén quá nhiều, không còn giấu được. Ngấn khóc. Bà định khuyên can con thật nhiều nhưng không hiểu sao cổ họng bỗng trở nên đắng ngắt, nghẹn lại. Bà cầm tay con thật lâu và chỉ nói được một câu duy nhất: “Thôi, đừng làm ăn bất chính nữa, nếu không, sớm muộn rồi cũng chết, chẳng sống được mà nuôi con đâu!”. Ngấn không nói gì, chỉ khóc rồi lại quay về Hà Nội ngay, xem chừng có vẻ vội vã lắm…


Chưa đầy một tuần sau thì bà hay tin Ngấn bị bắt. Mọi sự đoán định của bà đã trở thành sự thật. Duy chỉ có điều bà không ngờ đó lại là lần gặp con cuối cùng. Cho đến cái buổi tờ mờ đất mà Ngấn bị đưa ra trường bắn Cầu Ngà, khi Ngấn đang run rẩy trong nỗi sợ hãi thì bà ở quê, một nỗi sợ hãi mơ hồ không hiểu từ đâu cũng xộc đến rất nhanh và ở lại, bám riết lấy bà.


Bà trở dậy, lật đật đi như chạy ra chùa, thắp nhang và cầu kinh chờ cho trời sáng. Đúng 5 giờ thì Đài tiếng nói Việt Nam nổi nhạc bắt đầu một ngày mới. Trong chương trình thời sự đầu tiên của ngày, đài đưa tin đã thi hành án tử hình đối với các bị án trong đường dây ma túy Vũ Xuân Trường. Bà tức tốc thuê xe ôm lên Hà Nội. Rồi cuối cùng thì bà cũng đã tìm được đến trường bắn Cầu Ngà. Lúc này, trời đã sáng bảnh, bình minh đã lên. Cuộc thi hành án đã hoàn tất.


Trở lại câu chuyện của các tử tù trong phút giây cuối cùng trước khi ra trường bắn. Không phải tất cả các tử tù đều như Ngấn. Có những tử tù bình tĩnh đón nhận cái chết như một cơ hội để gột rửa mọi tội lỗi do họ đã gây nên. Lê Thị Thủy ở Đông Anh, Hà Nội là một trường hợp. Thủy giả vờ yêu quí Bé, mua nước ngọt cho Bé ăn nhưng lại lén pha thuốc chuột vào chai nước ngọt.


Bé chết, Thủy bị tuyên án tử hình. Nhưng khác với nhiều tử tù khác, Thủy đón nhận sự đền tội một cách khá thanh thản vì với Thủy chỉ có cách ấy thì mới gột rửa được tội lỗi tày trời mà Thủy đã gây ra. Trước khi ra trường bắn, Thủy tự đánh răng, rửa mặt, tự mặc quần áo mới và chải đầu gọn ghẽ. Thủy cũng bình tĩnh ăn hết phần xôi gà mà Trại đã chuẩn bị cho bữa sáng cuối cùng.


Thì vẫn biết rằng, thái độ của các tử tù có thể khác nhau khi đón nhận cái chết đền tội. Song, dù sợ hãi hay bình tĩnh thì tất thảy họ đều ân hận khi mà chính họ, chứ không phải ai khác đã tước đi quyền được sống của bản thân mình……

Theo BĐ&CS

Thứ Bảy, 6 tháng 11, 2010

Nghề chôn tử tù

Một sớm đầu đông, trời lạnh buốt, lác đác những giọt mưa càng làm cho quang cảnh khu vực trường bắn thêm ảm đạm. Tử tù Trương Ngọc Điệp bị buộc chặt vào cọc và ngay sau đó, đội thi hành án bước vào vị trí, một loạt đạn vang lên.
Cách đó không xa là một cái huyệt được đào sẵn từ hôm trước, bên trên là chiếc quan tài. Mùi hương loang trong không gian. Công việc cuối cùng là chôn cất tử thi. Tất cả diễn ra một cách bình thường. Không có một người thân nào của tử tù vào giờ phút ấy.
Nhìn bên ngoài, khu nghĩa địa của tử tù tại trường bắn Cầu Ngà (cách trung tâm Hà Nội khoảng 20 km) không có gì đặc biệt, rất ít người đến thăm mộ vào ngày cuối tuần. Dưới mỗi ngôi mộ là một tử tù. Mỗi tử tù là một câu chuyện dài về tội ác, về những bi kịch và cả những giờ phút đau đớn nhất của kiếp người khi họ phải lấy mạng sống của mình ra đền tội.


Khiêng xác tử tù đi chôn.

Những năm trước, việc thi hành án ở khoảng đất phía dưới, trũng, lại sát ao. Mùa mưa, nước ngập mênh mông. Muốn đào huyệt hay chôn cất phải dùng máy bơm hút nước nửa ngày trời. Còn bây giờ, khu nghĩa địa chuyển lên trên, cao ráo, rộng rãi hơn, nhưng lại khổ vì rác. Đống rác chất cao như núi của một xí nghiệp môi trường đô thị xử lý chậm nên phân hủy, bốc mùi không thể chịu nổi. Vào những ngày nắng hay mưa, cái mùi đó mới kinh khủng. 
 
Anh Lộc, người có thâm niên trong nghề "đào sâu, chôn chặt" tử tù kể: "Vào lúc 4-5h chiều, khi cán bộ trong trại tạm giam gọi điện nói rằng tối nay "có việc" là chúng tôi hiểu ngay. Mấy anh em vác xẻng lên đường làm nhiệm vụ. Đào một cọc tức là sớm mai bắn một tử tù, hai cọc là hai tử tù. Số huyệt cũng tương đương như vậy. Cọc và thừng để buộc tử tù trại đã lo. Anh em tôi chỉ đào sâu xuống để chôn cọc thật chắc".
 
Quanh khu vực chôn cọc trước đó từng bắn nhiều tử tù. Chiếc cọc cao hơn 2 mét, như một chiếc thang dựng đứng. Khi chôn phải sâu xuống đất để lúc cột tử tù vào cũng như khi bắn, cọc không bị đổ.
Xong việc chôn cọc là đào huyệt. Vì trước đây, khu vực nghĩa địa là nơi tập kết rác nên phế thải vật liệu xây dựng ở đây rất nhiều. Gặp chỗ đất mềm, đào 2-3 huyệt chỉ mất hai giờ là xong. Còn chỗ nào đất cứng, nhiều gạch vữa thì đào một huyệt phải mất 3-4 giờ. Hôm nào trời mưa hoặc rét mướt, vừa đào, vừa phải tát nước bì bõm, quần áo lấm lem. Làm một lúc thì người nóng lên, chứ ngưng tay là lạnh cóng, gió táp vào mặt liên hồi. Khi hai việc trên hoàn tất, cán bộ ở trại ra kiểm tra lần cuối, độ chắc của cọc và độ sâu của mộ. Kể từ lúc đó, toàn khu vực trường bắn được bảo vệ nghiêm ngặt, đề phòng tình huống bất trắc có thể xảy ra.


Chuyển xác tử tù vào quan tài.

Với công đoạn chôn cất, anh Kiên, một đội viên dân phòng từng 10 năm làm công việc này, kể cặn kẽ: "Bất kể trời như thế nào, đúng 5h sáng, anh em tôi tập kết ở gần trường bắn. Khi đội thi hành án vào vị trí và đồng loạt bắn, tiếp theo là viên đạn nhân đạo của Đội trưởng, chúng tôi bắt tay ngay vào việc. Trước hết là chặt dây buộc tử tù, một người bên cạnh dựng nửa chiếc quan tài lên để khi dây chặt hết, tử thi đổ người xuống quan tài. Tiếp đó, chúng tôi tháo băng đen bịt mắt, vén áo tử tù lên để cán bộ pháp y vào kiểm tra, xác định các vết đạn trên thân thể, báo cáo với Hội đồng thi hành án là tử tù đã chết hoàn toàn. Lúc đó, việc chôn cất mới bắt đầu".
 
Anh Kiên kể tiếp, bốn người khiêng chiếc quan tài bên trong có tử tù ra huyệt, cách đó chừng 50 m. Những bó hương được đốt lên. Mỗi tử tù sẽ do 4 người chôn. Đã thành lệ, anh em không liệm hay hạ huyệt ngay mà chỉnh lại áo cho ngay ngắn, đặt dép tử tù phía dưới. "Có bao thuốc lá tử tù đang hút dở hay tấm ảnh người thân trong túi rơi ra, chúng tôi cũng nhặt và cho hết vào quan tài. Sau đó mới liệm, đưa xác tử tù xuống huyệt và lấp đất lên. Thường thì 7-8h sáng thì kết thúc", anh Kiên nói.
 
Những người chôn cất nhớ nhất là trường hợp đầu tiên xử bắn 7 bị án trong vụ án đường dây ma túy xuyên quốc gia do Siêng Phiêng - Vũ Xuân Trường cầm đầu vào sáng 3/3/1998. Vì, chưa bao giờ tại Cầu Ngà lại thi hành án với số lượng bị án nhiều như thế. Suốt hai ngày liền, đào cọc và huyệt, rồi chôn cất đến gần trưa mới xong. Khi về nhà, ai cũng mệt rã rời.
 
Trường hợp thứ hai là xử bắn anh em Dương Văn Khánh và Nguyễn Tiến Thắng vào sáng 13/10/1998. Từ hôm trước trời đã mưa. Đến đúng đêm diễn ra thi hành án, mưa càng to hơn. Nước mưa chảy thành dòng quanh khu vực trường bắn. May mà lúc giải hai bị án ra pháp trường, trời lại tạnh. 
 
Còn trường hợp thứ ba là thi hành án nữ tử tù Lê Thị Thủy, diễn ra cách đây 7-8 năm. Thủy là kẻ giết con riêng của chồng, một bé gái 5 tuổi bằng thuốc diệt chuột chỉ vì nghe tin bố cháu bé có quan hệ với một cô gái khác. Anh Minh nhớ lại đọc báo thấy tội ác của cô ta thật kinh khủng, nhưng đến khi thi hành án mới biết còn quá trẻ, trắng trẻo và... hiền lành. Cho đến hôm nay, tại nghĩa địa dành cho tử tù, có khoảng gần chục ngôi mộ là nữ, hầu hết bị tử hình về tội mua bán trái phép chất ma túy và lừa đảo.
 
Đội viên dân phòng Tiến, vừa bước sang tuổi 20 nhớ lại: "Lần đầu các chú phân công nhiệm vụ đó, em run lắm. Tưởng tượng ra đủ thứ chuyện. Khi súng nổ, em giật nẩy người. Các chú bảo làm việc này lại làm việc khác. Cả ngày hôm đó em cứ bị ám ảnh, không tài nào chợp mắt được. Thế rồi làm nhiều thành quen, không thấy sợ nữa. Đến nay, em tham gia chôn cất 3 tử tù. Anh Lộc tâm sự: "Trước khi đóng quan tài, mình và anh em trong tổ sửa lại quần áo, vuốt mắt cho tử tù và thầm khấn mong sao người chết xuống đó tu chí để sau này nếu được làm kiếp người thì làm người lương thiện. Chết ở nơi pháp trường nhục nhã lắm".
 
Không ai buộc các anh phải làm như vậy nhưng đó là điều các anh thấy nên làm. Cho người chết được thanh thản trước khi từ giã trần thế về với cát bụi. Và ngay cả các anh cũng thấy nhẹ lòng khi hoàn tất một công việc "đặc biệt", bước ra khỏi trường bắn và trở về với công việc thường ngày.
 
* Tên những người chôn cất tử tù đã được thay đổi.
(Theo An Ninh Thủ Đô Cuối Tuần)

Thứ Hai, 25 tháng 10, 2010

Tại sao vỏ hộp đĩa DVD lớn hơn CD?

Đĩa CD được đựng trong hộp ngang 148mm, dài 125mm. Đĩa DVD đựng trong hộp ngang 135mm, dài 191mm. Vì sao hai loại đĩa có kích cỡ hoàn toàn bằng nhau lại đựng trong những vỏ hộp khác nhau đến vậy?

Ta có thể lý giải được sự khác biệt đó nếu xem xét về quá trình ra đời và phát triển của đĩa CD. 


Trước khi đĩa CD kỹ thuật số xuất hiện, đa số đĩa nhạc làm bằng nhựa vinyl và đựng trong bìa vuông mỗi cạnh 302mm. Giá đựng đĩa vinyl đủ rộng để đựng hai hàng đĩa CD với miếng phân cách giữa chúng. Như vậy, thiết kế vỏ đĩa CD có chiều rộng nhỏ hơn một nửa chiều rộng vỏ đĩa vinyl là để người bán lẻ không phải tốn nhiều chi phí để thay toàn bộ hệ thống giá lưu giữ và trưng bày đĩa.
Kích cỡ của vỏ đĩa DVD cũng được xác định dựa trên những tính toán tương tự như vậy. Trước khi đĩa DVD trở nên phổ biến, các cửa hàng cho thuê băng video dưới dạng VHS đựng trong hộp ngang 135mm và dài 191mm. Những cuộn phim này được cuốn từ bên này sang bên kia qua hai trụ quay.


 Trong thời gian người tiêu dùng đang dần chuyển qua dùng loại đĩa hình mới, việc sản xuất ra những vỏ hộp DVD có cùng chiều dài với hộp băng VHS giúp các cửa hàng có thể trưng bày đĩa DVD lên những kệ có sẵn. Ngoài ra, điều này cũng góp phần khuyến khích khách hàng chuyển sang dùng đĩa DVD vì họ có thể cất chúng trên những ngăn kệ lúc trước để băng VHS.

Thứ Bảy, 16 tháng 10, 2010

Lịch sử bộ bài Tây 52 lá


Mọi khi vẫn đánh bài và thỉnh thoảng lại chép miệng khen ai nghĩ ra cái trò 52 lá này mà hay thế. Nhưng tới hôm nay mới thắc mắc cái người đó là ai. Lọ mọ lên net tìm và đã thấy. Quả thực ý nghĩa của bộ bài này hoàn toàn không đơn giản mà rất hay. Nó gắn liền với quá trình lịch sự của thế giới, của cả thời kì. Quả đúng là cái gì cũng có ẩn chứa sau đó ý nghĩa rất hay ho chứ không chỉ đơn giản như những gì nhìn thấy ở bề ngoài. Ai quan tâm thì có thể click vào tiêu đề để đọc toàn bộ nội dung.

Trong tất cả các loại bài, bài 52 lá mà ta thường gọi là bài Tây, đúng là phổ biến nhất trên thế giới. Cho tới nay chưa có sách vở nào nói rõ về nguồn gốc của bộ bài này. Có giả thiết cho rằng chính người Trung Quốc chơi bài Tây đầu tiên, còn một số khác lại cho rằng chính người Ba Tư đã phát minh ra nó. Từ năm 1127, người Trung Quốc từng biết chơi các quân bài bằng gỗ được nhuộm nhiều màu, dù các hình vẽ còn đơn giản.


Ban đầu Bài Tây không phải chỉ có 4 nước. Một số loại bài xưa còn có đến 8 nước hoặc 10 nước và cách đây không lâu lắm người ta còn thử chơi bài Bridge với 5 màu.

Thú chơi bài từng được đón tiếp nồng nhiệt ở Venise, rồi Tây Ban Nha. Chưa đầy 100 năm sau ở Paris, đã phát sinh ngành công nghiệp sản xuất bài nhằm thỏa mãn đam mê của Vua Pháp Charles VI (1368-1422). Giới vua chúa trong triều đình Pháp thích chơi bài này đến nỗi có một sắc lệnh ban bố cấm giới dân đen không được chơi.

Đến năm 1480, người Anh bị mê hoặc bởi bộ bài 52 lá. Quốc Hội Anh thấy cần phải nhanh chóng ra lệnh cấm những người hầu và học việc không được chơi bài vào kỳ nghỉ lễ Noel. Đến thế kỷ 16 và 17, bộ bài 52 lá trở nên thông dụng trong tất cả các tầng lớp dân chúng ở Anh. Những người thuộc Hoàng Gia khi ấy, chơi bài suốt nhiều ngày liền với số tiền đặt rất lớn.

Lúc đầu 4 nước bài có dạng là TIM, CHUÔNG, LÁ và QUẢ SỒI, đến thế kỷ 14 người ta thay thế bằng hình ảnh, TIỀN, CỐC, KIẾM và GẬY. Bốn nước bài này được giữ suốt trong 200 năm và chúng mang đặc tính của thời phong kiến. TIỀN tượng trưng cho giới thương nhân, CỐC cho Nhà Thờ, KIẾM cho giới quân sự và GẬY là cho tầng lớp lao động. Tương tự ba quân bài cao nhất: quân Già tượng trưng cho vua, quân Đầm tượng trưng cho Hoàng Hậu và quân Bồi tượng trưng cho người hầu. Mãi sau này bốn nước bài mới được đổi thành: TIM, CƠ, CÁNH CHUỒN, NGỌN GIÁO (mà ta vẫn quen gọi là CƠ, RÔ, CHUỒN (NHÉP), BÍCH do bắt chước lối phát âm). Tuy vậy, có điều khá lạ là nước Bích không tượng trưng cho giai cấp nông dân hoặc công nhân tức những người nghèo khổ. Có lẽ người ta chọn nước Bích vào thời kỳ mà việc sử dụng Giáo Mác khá phổ biến.

Thuở ban đầu, CƠ (trái tim) có nghĩa là tâm hồn cao thượng, sự thanh cao; RÔ (ca rô) có nghĩa là sự giàu có, quyền lực của giới thương nhân (Rô hình thoi làm người ta nhớ đến các viên ngói lợp trên các ngôi nhà mà giới thương nhân đến bàn bạc chuyện làm ăn); CHUỒN được xem là tượng trưng cho giới nông dân nhưng thực sự nó chỉ đơn giản thể hiện hình một chiếc lá cánh chuồn.

Mỗi quân bài BỒI, ĐẦM, GIÀ tượng trưng cho một nhân vật lịch sử có thật. Già Cơ chính là Hoàng Đế Charlemagne (747-814). Đầm Cơ chính là bà Judith mà theo truyền thuyết đã giải thoát dân tộc Judeé khỏi ách bạo tàn của người Assyrien. Bồi Cơ chính là La Hire (1390-1443) người bạn đường thân tín của nữ anh hùng Joan d’Arc. Lai lịch của con đầm Bích vẫn chưa được xác định. Có người cho rằng đó có thể là một bà Hoàng Hậu nào đó của Pháp.

Trong số các truyền thuyết của bộ bài 52 lá có cả truyền thuyết về lá bài 9 Rô. Trong một thời gian dài, quân bài này đã được gọi là “tai họa của xứ Scottland”. Đã có nhiều lời giải thích về truyền thuyết trên nhưng mọi chuyện vẫn chưa được tỏ rõ lắm. Có giả thiết cho rằng chính trên lá bài 9 Rô, công tước Cumberland (1721-1765) đã viết lệnh tàn sát các tù binh bị thương sau trận Culloden (1746). Một lời giải thích khác nói, trong một kiểu chơi bài do bà Marie, hoàng hậu của xứ Scottland đề xướng, con 9 Rô được xem là quân bài chủ cần tìm kiếm và người dân Scottland thích chơi kiểu bài này đến nỗi nhiều gia đình phải tán gia bại sản và thế là từ đó con số 9 Rô được biết đến dưới tên “tai họa”.

Khởi đi, bộ bài 52 lá, từng được sử dụng như một thứ tiêu khiển quý phái, giờ đây thú chơi bài đã trở nên rất bình dân và đau đớn thay, nó đã bị người ta làm biến dạng để trở thành một phương tiện sát phạt, cay cú ăn thua nhau tàn nhẫn kinh khiếp. Bao kẻ trắng tay vì bài bạc... bao kẻ tan nát gia đình vì tính “máu mê”... (Đặc biệt, chỉ có một điểm an ủi duy nhất là trong khoảng thời gian từ 1685 đến 1715, ở Canada, các quân bài được dùng làm… tiền để trao đổi).

Joker là một lá bài đặc biệt có trong những bộ bài hiện đại.

 


Một bộ bài thường có hai lá Joker, và hình vẽ trên những lá bài này khác nhau tùy vào nơi phát hành bộ bài. Thông thường, một lá Joker sẽ có màu trắng đen, còn lá còn lại có màu sắc đầy đủ. Có khi, một lá Joker màu đỏ, và lá kia màu đen. Trong những trò cần phải so sánh lá joker với nhau, joker có màu thường mạnh hơn joker trắng đen. Với những lá joker đỏ/đen, mày đỏ được tính là cơ hoặc rô, còn màu đen được dùng thay cho chuồn/pích. Hình trên lá joker thường là một thằng hề.

Các dùng Joker rất khác nhau. Nhiều trò chơi bài hoàn toàn không dùng đến những lá này; những trò khác, như biến thể 25 lá của Euchre (bài u-cơ), lại xem joker là một trong những lá bài quan trọng nhất trong trò chơi. Thông thường, lá bài này là một lá bài tự do, cho phép nó đại diện nhiều lá khác nhau.

Người ta tin rằng từ Joker xuất phát từ chữ Jucker, tiếng Alsace của trò Euchre, vì lá bài này được dùng cho trò chơi của gia đình đó. Có cách giải thích khác, nó là sự phối hợp của Jucker và Poker, vì đây là những trò chơi nó được dùng phổ biến nhất.

Lá Joker là một lá bài có thể cực kỳ có lợi, hoặc cực kỳ có hại. Trong trò Euchre nó thường dùng để chỉ Benny, lá bài chủ cao nhất. Trong poker, nó là tự do. Tuy nhiên, trong trò Old Maid dành cho trẻ em, lá joker đứng một mình đại diện cho Maid, một lá bài mà ai cũng tránh phải có.

Lá Joker đôi khi thường đươc ký hiệu là chữ S chồng lên chữ U, nên thường bị hiểu nhầm là ký hiệu gốc của ký hiệu dollar.

Lá Joker thường bị so sánh với 'The Fool' trong Major Arcana của bộ bài Tarot. Chúng có hình dáng và chức năng tương tự; the Fool thường mạnh hơn.

Quân át (theo cách gọi của dân VN ta) là một trong số các quân bài đặc biệt trong bộ bài 52 lá.

Trên quân át không ghi số 1 mà ghi chữ A vì đây là viết tắt của Ace - quân át, ngoài ra Ace còn có nghĩa là number one, là nhà vô địch. Bởi thế quân át nắm giữ thuộc tính của từng loại quân bài (HEART, DIAMOND, CLUB, SPADE) và luôn dẫn đầu 12 quân còn lại.


Ace of Spades, tức Át Bích là quân bài đặc biệt nhất. Tuy Spade có nghĩa là "phần đuôi" bởi các quân Bích thường được xếp bên dưới, nhưng không phải vậy. Biểu tượng Spade trên Át Bích to hơn các biểu tượng khác nhiều và Át Bích được xem là quân bài đại diện cho sức mạnh tối cao và có quyền lực nhất trong tất cả các quân bài, còn quyền lực hơn cả những vị vua và các quân át khác.

Bộ bài có xuất xứ ở Châu Âu từ thời cực thịnh của đạo Thiên chúa. Vì vậy, các con số đều có ý nghĩa gắn liền với tôn giáo này.

Số 2: 2 ước kinh: Tân ước và Cựu ước.


Số 3: Ám chỉ 3 ngôi: Cha, Con và Thánh thần.


Số 4: Nói đến 4 vị thánh trong phúc âm (Thánh Mathieo, jeans, Luc và Marans).


Số 5: Liên tưởng đến 10 đồng trinh: 5 tối tăm, 5 sáng suốt.


Số 6 và 7: Chúa sinh ra 6 ngày làm việc (T2-T7) và 1 ngày nghỉ (chủ nhật là chúa nhật- ngày của chúa).


Số 8: Ông già Noel và gia đình (8 người) đã thoát chết trong trận Đại hồng thuỷ.


Số 9: Chúa Giesu đã chữa trị cho 10 người bị bệnh hủi, nhưng chỉ có 1 người quay lại cảm ơn còn 9 người kia thì không.


Số 10: Chỉ 10 dòng đạo Thiên chúa.


Quân J: Lớp quân đội.


Quân Q: Là Maria- mẹ đức chúa Giesu.


Quân K: Là vua, mỗi nước có 1 vị vua.

 

Tổng số các biểu tượng là 365, tương đương với số ngày trong năm, 52 quân bài là 52 tuần.


Cơ, rô, bích, tép: Biểu tượng cho 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông.


12 quân có hình vẽ biểu tượng cho 1 năm có 12 tháng